NHỮNG CA KHÚC GIÁNG SINH ĐƯỢC ƯA CHUỘNG

Lời ngỏ:

Tiếng hát mừng Chúa ra đời đã được cất lên ngay từ lễ Giáng sinh đầu tiên, trên khắp tầng trời cao thẳm:

Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người thiện tâm
.

Rồi từ ngày đó, trải qua bao nhiêu năm tháng, những bản thánh ca mừng Chúa ra đời đã vang vọng khắp nơi, từ trong các ngôi giáo đường nguy nga lộng lẫy cho đến những miền thôn trang hẻo lánh nghèo nàn. Hài Nhi hạ sinh trong một chuồng chiên bò đã được ngợi ca bằng hàng trăm bản hợp xướng du dương trầm bổng của biết bao nhiêu ca đoàn, bằng tiếng hát điêu luyện lẫy lừng của những ca sĩ nổi danh, bằng những giọng ca đơn sơ mộc mạc của người dân thôn dã. Rất nhiều bài ca mừng lễ Giáng sinh đã được sáng tác bằng đủ mọi loại ngôn ngữ, được hát lên, được trân quý, được ghi nhớ và đi theo với con người vào dòng lịch sử, và sẽ mãi mãi còn được ca vang cho đến ngày sau cùng của trái đất.

Quê hương Việt Nam chúng ta đã đón nhận ánh sáng Tin Mừng soi rọi từ hơn 400 năm. Nhưng chúng ta đã không có những bản thánh ca phổ thông bằng tiếng Việt cho mãi tới khi đất nước được độc lập. Những bài ca mừng Giáng sinh bằng Việt ngữ ra đời cùng một lần với rất nhiều bản thánh ca khác khi giáo nhạc nở rộ vào thập niên 40. Những bài hát như “Hang Belem” của Hải Linh, “Cao Cung Lên” của Hoài Đức và Nguyễn Khắc Xuyên..., được hát lên khắp hang cùng ngõ hẻm và ngày nay lan tỏa ra khắp năm châu theo với đoàn người Công giáo Việt.

Đã từ lâu chúng tôi mong mỏi được nghe kể về những giai thoại liên quan đến các bản thánh ca Việt Nam. Chúng tôi nao nức muốn tìm hiểu về các nhạc sĩ tác giả, hoàn cảnh sáng tác, tư liệu, nguồn cảm hứng, khó khăn hoặc thuận lợi khi phổ biến, hay bất cứ chi tiết nào hoặc kỷ niệm nào về bản nhạc, nhưng rất khó tìm được tài liệu. Có lẽ các nhạc sĩ - một số vị nổi danh nay đã ra người thiên cổ - vì quá khiêm tốn nên không muốn đề cập, hoặc vì hoàn cảnh khó khăn của đất nước và chiến tranh nên sách vở tài liệu đều bị tiêu hủy hay thất lạc. Trong những năm gần đây, các trung tâm chuyên sản xuất video ca nhạc ở hải ngoại – như Thúy Nga, Asia...- đã mời một số nhạc sĩ xuất hiện trong các chương trình ca nhạc đặc biệt nhằm vinh danh họ, và các nhạc sĩ này đã kể lại một ít giai thoại về cuộc đời sáng tác, những kỷ niệm chung quanh một số nhạc phẩm..., có rất nhiều chi tiết lý thú khiến chúng ta hiểu thêm về cuộc đời họ, về các bản nhạc họ sáng tác. Nhưng đối với nhạc tôn giáo, chúng ta chưa có những chương trình như vậy.

Nhân mùa lễ mừng Chúa giáng trần, chúng tôi xin mời độc giả cùng đọc với chúng tôi những chuyện kể về mấy ca khúc Giáng sinh được ưa chuộng. Những chuyện này chúng tôi dịch thuật theo Ace Collins trong cuốn Stories Behind the Best Loved Songs of Christmas. Cuối mỗi bài, chúng tôi in nguyên văn bài hát và những bản chuyển âm sang Việt ngữ của nhạc sĩ Việt nam hoặc của các giáo hội Thiên Chúa giáo (nếu có). Ở phần cuối loạt bài này, chúng tôi xin trình thuật một số tài liệu về các nhạc bản “Hang Be lem” của Hải Linh và “Cao Cung Lên” của Hoài Đức. Ước mong các nhạc sĩ, nhà nghiên cứu hay các vị viết lịch sử âm nhạc Công giáo Việt Nam tìm hiểu, thâu thập và đưa ra những chuyện kể lý thú liên quan đến các bản nhạc Giáng sinh Việt Nam mà chúng ta trân quý từ hơn nửa thế kỷ nay.

(Phạm Hoàng Nghị)

1. SILENT NIGHT (Đêm Thánh Vô Cùng)
(Nghe bài Đêm Thánh Cô Cùng, CD VietCatholic, với tiếng hát Anh Dũng)
Năm 1817, cha Joseph Mohr, lúc đó mới 25 tuổi, được bổ nhiệm làm linh mục phụ tá tại nhà thờ Thánh Nicholas ở miền Oberndorf nước Áo.
Cậu Mohr ngay từ lúc thiếu thời đã say mê âm nhạc, được đặt làm người phụ trách âm nhạc tại một nhà thờ nhỏ; có lúc cậu đã sáng tác thơ và đặt lời cho những bài ca trong các nghi lễ đặc biệt tại giáo đường. Khi trở thành linh mục, cha Mohr làm việc không biết mệt mỏi trong các công tác từ thiện phục vụ thanh thiếu niên con các gia đình nghèo khó trong vùng.

Một ngày mùa đông năm 1818, cha Mohr đang cố công hoàn thành mọi sửa soạn cho thánh lễ Giáng sinh, một nghi lễ mà cha đã hoạch định trước cả tháng. Mọi thứ đều đã xong xuôi, từ bài hát cho đến bài giảng. Nhưng lúc cha dọn dẹp thánh đường mới khám ra một trở ngại tưởng không thể khắc phục được: đó là chiếc phong cầm của nhà thờ bị hư. Nóng lòng, cha lui cui hàng giờ đánh vật với hàng phím, với bàn đạp của chiếc đàn, có lúc bò cả ra phía sau để mong tìm ra chỗ hư hỏng. Bất chấp mọi khó nhọc của cha, chiếc đàn vẫn nằm ỳ ra không lên tiếng, im lặng chẳng khác cái lặng lẽ của một đêm đông giá lạnh.

Nhận thấy không thể làm gì hơn được, vị linh mục ngừng lại và cầu nguyện. Cha cầu xin Chúa cho cha tìm được một giải pháp nào để đem được âm nhạc đến với giáo dân trong một ngày lễ có ý nghĩa nhất trong năm. Có lẽ cha đã tìm được đáp ứng cho lời cầu nguyện của cha phát sinh từ những sự việc xảy ra cách đấy gần cả hai năm.

Năm 1816, lúc phục vụ nơi một thánh đường tại Mariapfarr, cha Mohr đã viết một bài thơ mừng Chúa Giáng sinh. Bài thơ gồm 6 khổ, cha cảm hứng sáng tác trên đường đi bộ từ nhà ông nội đến nhà thờ. Tuy có đưa cho vài người bạn xem bài thơ, nhưng cha chưa bao giờ nghĩ đến chuyện phổ biến hoặc có ý định đem ra phổ nhạc. Khi được đổi đến xứ đạo Oberndorf, cha mang theo bài thơ đó cùng với số vật dụng ít ỏi của mình.

Tìm lại bài thơ “Still Nacht! Heilige Nacht!” (Đêm Yên Lặng! Đêm Thánh!) trên bàn viết, cha đọc lại lúc này đã hai năm sau ngày sáng tác. Từ trước đến nay, những vần thơ đó dường như không mấy quan trọng đối với cha, nhưng lúc này đọc lại, cha thấy dường như Chúa đã cho cha một tia sáng hy vọng. Bỏ bài thơ vào túi áo cha vội vã ra khỏi nhà. Chỉ còn mấy giờ nữa là thánh lễ nửa đêm bắt đầu, vị linh mục băng nhanh qua những đường phố đầy tuyết phủ.

Cũng vào buổi chiều hôm đó, Franz Gruber, người giáo viên làng 31 tuổi đang co ro trong căn phòng nhỏ bên cạnh trường học. Mặc dầu đã theo học phong cầm với giáo sư nổi tiếng Georg Hardobler, Gruber cũng chỉ chơi đàn cho nhà thờ St. Nicholas nhỏ bé. Đang miên man với mấy nốt nhạc trên chiếc đàn thì ông ngạc nhiên nghe tiếng gõ cửa và thấy cha Morh bước vào. Ông nghĩ thầm: giờ này thì cha đáng lẽ phải ở nhà thờ sửa soạn dâng thánh lễ, có đâu rảnh rang mà dạo quanh thăm viếng bạn bè.

Sau câu chúc mừng Giáng sinh vội vã, vị linh mục hối hả kéo ông giáo làng tới chiếc bàn nhỏ trong phòng và ra dấu bảo ngồi cạnh mình. Bằng giọng nói rõ ràng là nản chí, cha kể cho ông nghe nỗi khó khăn trước mặt. Sau khi bảo Gruber rằng chiếc đàn không thể sửa được, cha liền đem bài thơ ra và nói:

- Franz, anh xem có thể viết nhạc cho bài thơ này để ca đoàn hát được không? Không có đàn thì ta chơi guitar vậy.

Rồi vị linh mục đưa mắt nhìn đồng hồ trên bàn, nói thêm: Không còn nhiều giờ nữa đâu.

Đọc kỹ bài thơ, Gruber gật dầu. Ánh mắt và nụ cười của ông chứng tỏ ông chấp nhận thử thách đó. Tin tưởng là Chúa đã sắp đặt mọi sự, cha Mohr vội vã băng qua những đường phố ngập tuyết trở về nhà thờ, bỏ lại Gruber một mình ngồi đó với bao nhiêu ý tưởng, trước một chiếc đồng hồ đang tích tắc kêu và một lời cầu mong xin tìm ra hứng khởi.

Mấy tiếng đồng hồ sau hai người gặp nhau tại nhà thờ. Trong ngôi thánh đường có ánh đèn tỏa sáng, Gruber đưa cho vị linh mục coi bản nhạc của mình. Linh mục chấp thuận, dùng đàn guitar gảy lên những nốt nhạc rồi vội vã chuyển cho ca đoàn đang chờ đợi tập dượt. Công trình tưởng chừng phải mất cả tuần lễ thì nay chỉ cần mấy tiếng đồng hồ là xong. Không có nhiều thời giờ tập dượt, cha Mohr và Gruber chỉ dạy được cho ca đoàn phần hòa âm bốn giọng của mỗi hai câu thơ cuối.

Trong thánh lễ nửa đêm, cha Mohr và Gruber đứng trước bàn thờ giới thiệu bản nhạc nhỏ bé và giản dị của hai người. Họ đâu ngờ rằng “Still Nacht! Heilige Nacht!” không chỉ sẽ được nhớ tới vào ngày Giáng sinh kế tiếp trong ngôi làng bé nhỏ của họ mà còn được ca hát khắp thế giới gần hai trăm năm sau nữa.

Mấy tuần lễ sau ngày tết dương lịch, anh chàng Karl Mauracher chuyên chế tạo và sửa đàn phong cầm ngụ tại vùng thung lũng Ziller, đến nhà thờ St. Nicholas để sửa đàn cho cha Mohr. Trong lúc anh lui cui sửa chữa, cha Mohr đem câu chuyện cha đã dùng đàn guitar để chơi một bản nhạc phổ bài thơ cũ để cứu vãn buổi lễ đêm Giáng sinh vừa qua. Cha hát cho anh chàng này nghe bản nhạc đó, và nói rằng cha tin là Chúa đã nghe lời cha nguyện cầu. Thích thú vì bản nhạc, anh chàng Karl lấy giấy ghi xuống bài ca và học thuộc lòng các nốt nhạc. Những năm sau, theo với nghề nghiệp phải đi đây đi đó, anh giới thiệu bản nhạc này với nhiều đô thị và thánh đường.

Bản “Still Nacht! Heilige Nacht!” nguyên thủy

Vào thế kỷ 19, ở nước Áo và nước Đức có nhiều nhạc sĩ du ca. Mỗi nhóm du ca gồm các thành viên trong cùng một gia đình thường không chỉ hành nghề ca hát mà còn làm những việc chuyên biệt khác để có tiền chi dụng trong lúc di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Năm 1832, nhóm du ca thuộc gia đình Stasser xuất hiện tại một cộng đồng nhỏ nơi anh chàng sửa đàn Mauracher đang ráp đặt một chiếc phong cầm. Trong thời gian ở đó, nhóm du ca này học được bài “Still Nacht!” và mấy tuần sau đem trình bày tại một buổi diễn tại Leipzig, trước một đám thính giả rất đông đến coi hội chợ. Nhận thấy bản nhạc này mang một sứ điệp tinh thần sâu xa, hoàng đế nước Áo William IV truyền cho ca đoàn nhà thờ chính toà của ông ca bản nhạc này trong nghi lễ Giáng sinh hàng năm. Một phần cũng vì lòng ưu ái đó của nhà vua mà nhạc bản này lan tràn ra khắp miền đông Âu rồi tràn qua Anh quốc.

Tháng 12 năm 1839 một nhóm du ca khác thuộc gia đình Rainer tới Nữu Ước. Một phần chương trình của họ là trình bày bản “Still Natch!” bằng Anh ngữ (Silent Night!) trước một cử tọa rất đông đảo tại thánh đường Chúa Ba Ngôi. Bản nhạc trở thành phổ thông và được rất nhiều ca đoàn hát trong các nhà thờ. Vào thời kỳ nội chiến ở Mỹ, bản nhạc “Silent Night” trở thành bài ca Giáng sinh phổ biến nhất. Trong trận chiến giữa hai miền nam bắc, không hiếm thấy cảnh ngưng chiến bốn ngày trong dịp lễ Giáng sinh, binh sĩ giữa hai miền thù nghịch cùng buông súng, tụ họp lại để dự lễ, đọc Thánh kinh, chia sẻ quà cáp, và cùng ca bài “Silent Night”.

Bài hát càng được phổ biến thì nguồn gốc càng bị phân hoá. Có nhiều lúc các nhà xuất bản gán cho tác giả bản nhạc này là một trong các nhạc sĩ đại tài như Bach, Beethoven hoặc Handel. Chỉ mãi tới khi Franz Gruber gửi tới các báo và các nhà xuất bản bản sao tờ phổ nhạc của mình thì nguồn gốc đích thực mới được công nhận. Mặc dầu vậy, nhiều giai thoại về lời ca của bản nhạc vẫn còn được truyền tụng.

Cha Mohr qua đời trong cảnh nghèo khó vào năm 1848 trước khi được công nhận là tác giả bài thơ được phổ nhạc. Cha mất nên không thể chứng minh câu chuyện, do đó mới có truyền thuyết kể rằng bài thơ đã được viết ra vội vã sau khi khám phá thấy chuột đã cắn hại chiếc phong cầm, chứ không phải thực ra là chiếc đàn đã rất cũ và bị hư hại vì thời tiết quá lạnh. Truyền thuyết này được nhiều người công nhận nhưng thật ra có vẻ tiểu thuyết hơn là sự thực.

Vào cuối thập niên 1800, bản “Silent Night” đã được phiên dịch ra khoảng hơn 20 ngôn ngữ khác nhau và là nhạc bản không thể thiếu trong các lễ hội Giáng sinh trên khắp thế giới. Sang đến thế kỷ 20, nhạc bản này đã đi ra khỏi các giáo đường, hội nhập với những tập tục Giáng sinh khác.

Vào năm 1905 bản nhạc Silent Night được thu âm lần đầu tiên do ban nhạc Haydn Quartet. Đó mới chỉ là khởi đầu, sau đó bản nhạc đã được thâu âm cả bao nhiêu ngàn lần do các ban nhạc khác nhau trên khắp thế giới. Tới năm 1960, Silent Night được công nhận là bản nhạc được ghi âm nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc.

Mặc dầu với tính cách phổ thông như vậy, trong tâm trí nhiều người, bản Silent Night được viết ra lúc khởi đầu chỉ là một nhạc bản giản dị, một khúc ngợi ca. Được sáng tác để làm cho nghi thức mừng lễ Giáng sinh có ý nghĩa hơn, bản nhạc xưa cũ này vẫn còn mạnh mẽ và tươi mát như lần đầu tiên được hát lên trong ngôi thánh đường nhỏ bé nơi nước Áo xa xôi. Như một lời cầu xin được đáp ứng, Silent Night chỉ với mấy câu thơ ngắn ngủi cũng đủ mô tả được câu chuyện Giáng sinh của đấng Cứu thế trong máng cỏ nghèo nàn.

Ghi chú:

1. Bản nhạc này đã được cố nhạc sĩ Hùng Lân “Việt hoá” từ hơn nửa thế kỷ trước tại Việt nam và được hát trong các thánh đường Công giáo cũng như trên các đài truyền thanh truyền hình từ đó đến nay trong mùa lễ Giáng sinh. Ông không chuyển dịch bài ca nhưng đặt lời hoàn toàn mới, dùng những từ ngữ văn chương bóng bảy như “xe chữ đồng, ơn châu báu không bờ bến, nhắp chén phiền, vương phong trần, tuyết sương mịt mù...” Sau đây là lời ca do ông đặt:

- Đêm Thánh vô cùng
Giây phút tưng bừng
Đất với Trời xe chữ đồng
Đêm nay Chúa Con thần thánh tôn thờ
Canh khuya Giáng sinh nơi chốn hang lừa
Ơn châu báu không bờ bến
Biết tìm kiếm của chi đền.

- Ôi Chúa Thiên đàng
Cam mến cơ hàn
Nhắp chén phiền vương phong trần
Than ôi Chúa thương người đến quên mình
Bơ vơ chốn quê nhà lúc sinh thành
Ai ham sống trong lạc thú
Nhớ rằng Chúa đang đền bù

- Tinh tú trên trời
Sông núi trên đời
Với Thánh thần mau kết lời
Cao rao Hóa công đã khéo an bài
Sai con hiến thân mong cứu nhân loại
Hang chiên máng rêu tạm trú
Bốn bề tuyết sương mịt mù

2. Bản Anh ngữ:

- Silent night, Holy night,
All is calm, all is bright
’Round yon virgin mother and child!
Holy infant so tender and mild,
Sleep in heavenly peace,
Sleep in heavenly peace.

- Silent night, Holy night
Shepherds quake at the sight
Glories stream from heaven afar,
Heavenly hosts sing “Alleluia”
Christ the Savior is born.
Christ the Savior is born.

- Silent night, Holy night
Son of God, love’s pure light
Radiant beams from Thy holy face
With the dawn of redeeming grace.
Jesus, Lord at thy birth.

3. Bản chuyển dịch của Hội thánh Báp-tít Việt Nam :

- Đêm xuống êm đềm
Chuông thánh vang rền
Lướt lướt êm qua bao miền
Năm xưa ấy khắp nơi thanh vắng im lìm
Nhưng chuông thánh vẫn ngân nga khúc mơ huyền
Hoan nghênh Chúa con Trời giáng đến
Chuông thanh bình lắng buông êm đềm

- Đêm Chúa ra đời
Sao sáng trên trời
Có mấy người chăn quanh đồi
Nghe trong gió tiếng Thiên binh hát vang trời
Nghe trong gió tiếng Thiên binh hát vang lời
Giê-xu đến đem tình yêu tới
Đem thanh bình đến cho muôn người

- Năm tháng qua dần
Ai có hay rằng
Đã có lần Chúa xuống trần
Thương ta Chúa đến xóa bao vết thương lòng
Cho ta sống trong vui tươi với hy vọng
Ôi Giê-xu Chúa ru lòng êm ấm
Giữa khi cuộc thế đang xoay vần

4- Phiên bản khác của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam:

- Đêm thánh yên lặng! Đêm thánh an bình!
Đất vắng yên! Thiên quang ngời!
Chung quanh chỗ Ma-ri đang ngắm con mình,
Con Trai thánh rất tươi vui, rất an bình,
Đang yên giấc dưới trời vắng,
Êm đềm Thánh Vương nghi vệ.

- Đêm thánh yên lặng! Đêm thánh an bình!
Những kẻ chăn, bỗng hãi hùng,
Vinh quang sáng rỡ nơi thiên quốc soi rạng,
Muôn thiên sứ hát vang: Ha-lê-lu-gia!
Cứu Chúa giáng lâm trần thế!
Huy hoàng Thánh Vương lâm phàm!

- Đêm thánh yên lặng! Đêm thánh an bình!
Đức Chúa Con yêu thương đầy,
Dung quang thánh chiếu ra ân điển thiên đàng,
Như tia sáng cứu ân soi ánh huy hoàng,
Cứu Chúa giáng lâm trần thế!
Êm đềm Thánh Vương nghi vệ!

5. Nguyên bản bằng tiếng Áo:

Stille Nacht Stille Nacht, Heilige Nacht!
Alles schlft, einsam wacht
Nur das traute, hoch heilige Paar,
Holder Knabe im lockigen Haar,
Schlaf in himmlischer Ruh!
Schlaf in himmlischer Ruh!
Stille nacht, heilige Nacht!
Hirten erst kundgemacht
Durch der Engel Halleluja!
Tưnt es laut von fern und nah;
Christ, der Retter, ist da!
Christ, der Retter, ist da!
Stille Nacht, heilige Nacht!
Gottes Sohn, O wie lacht
Lieb aus deinem gưttlichen Mund,
Da uns schlgt die rettende Stund’,
Christ, in deiner Geburt!
Christ, in deiner Geburt!

(còn tiếp...)