
'Giống như phù thủy xứ Oz, sự hào nhoáng của chủ nghĩa duy nữ đã hứa hẹn rất nhiều nhưng đang chứng tỏ không những trống rỗng mà còn nguy hiểm.'
Ghi chú của biên tập viên National Catholic Register trong ấn bản ngày 15 tháng 1 năm 2026: Đoạn trích sau đây từ cuốn sách Something Wicked: Why Feminism Can't Be Fused with Christianity (Sophia Institute Press) được xuất bản với sự cho phép của tác giả Carrie Gress (*) và Sophia Institute Press.
Trong cuộc phỏng vấn, Gress chia sẻ với tờ Register về việc lựa chọn tựa đề:
“Việc chọn tựa đề luôn là một thách thức. Tôi muốn một cái tên có thể truyền tải điều gì đó nhanh chóng, có lẽ liên quan đến một cụm từ mà mọi người đã biết. Câu nói của Shakespeare ‘Something Wicked this way comes …’ (Điều xấu xa đang đến gần…) hiện lên trong đầu tôi, và mọi thứ đã kết hợp lại với nhau. Nó cũng truyền tải một điều gì đó nhanh chóng: rằng chủ nghĩa duy nữ là tiêu cực, điều này khó thực hiện trong một nền văn hóa bị chi phối bởi những câu nói ngắn gọn, dễ nhớ. Tôi thực sự nghĩ rằng, hơn bất cứ điều gì, đó là Chúa Thánh Thần. Điều tương tự cũng có thể nói về bìa sách; khi tôi nhận ra rằng tôi có thể sử dụng hình ảnh của Robert Duncanson, nghệ sĩ da đen thế kỷ 19 được giới thiệu trong cuốn sách, mọi thứ đã kết hợp lại một cách tuyệt vời.”
Vào những năm 1940, Đức Giáo Hoàng Pius XII đã yêu cầu cha Fulton Sheen (sau này trở thành Tổng giám mục Fulton Sheen) nghiên cứu sâu về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa cộng sản. Hệ tư tưởng chết người này đã tàn phá hàng triệu người ở Liên Xô và châu Âu và đang trên đà lan rộng ra nhiều nơi khác trên thế giới. Cha Sheen, khi đó là giáo sư tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ ở Washington, D.C., đã nghiên cứu nguồn gốc triết học của chủ nghĩa Mác.
Trong báo cáo cuối cùng trình lên Đức Giáo Hoàng Pi-ô, Cha Sheen đã đưa ra một tầm nhìn toàn diện về các vấn đề và cạm bẫy mà Giáo hội phải đối diện. Trong nhiều thập niên, công trình của Cha Sheen đóng vai trò như một loại vắc-xin chống lại tầm nhìn cộng sản và bảo vệ nhiều người khỏi sự kìm kẹp lạnh lùng, đầy thù hận của nó. Chưa có điều gì tương tự được thực hiện đối với chủ nghĩa duy nữ, cả trong Giáo Hội Công Giáo hay trong cộng đồng Tin Lành rộng lớn hơn.
Điều gần nhất với một sự phản bác quy mô lớn đối với chủ nghĩa duy nữ đến từ Diễn đàn Đại bàng của Phyllis Schlafly, được thành lập năm 1972. Được thúc đẩy bởi việc nhanh chóng phê chuẩn Tu chính án Quyền Bình đẳng, Schlafly đã huy động hàng triệu phụ nữ tham gia tích cực vào việc chống lại nó, ngăn chặn việc nó được phê chuẩn như một tu chính án hiến pháp. Chắc chắn, nhiều phụ nữ trong số đó là những tín hữu Ki-tô giáo trung thành, bao gồm cả Schlafly, người theo đạo Công Giáo. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các tổ chức Kitô giáo đã trở nên kín tiếng hơn trong việc lên tiếng chống lại nguồn gốc phản Kitô giáo của chủ nghĩa duy nữ có tổ chức.
Những nỗ lực chống lại một số tiến bộ của chủ nghĩa duy nữ có thể được tìm thấy trong các tác phẩm của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, bao gồm nhiều thông điệp và bài phát biểu chung như Mulieris Dignitatem (Về phẩm giá của người phụ nữ) và tác phẩm thần học sâu rộng của ngài về bản chất của nam và nữ, sau này trở thành Thần học Thân xác. Những yêu cầu hỗn loạn về việc phong chức linh mục cho phụ nữ, đạt đỉnh điểm vào những năm 1980 và 1990, nhìn chung đã lắng xuống trong cộng đồng Công Giáo. Chúng cũng đã lắng xuống trong cộng đồng Tin lành, mặc dù vì những lý do khác nhau, vì nhiều nhà thờ Tin lành đã chấp thuận và tin vào lời nói dối của chủ nghĩa duy nữ về sự hoán đổi giữa nam và nữ.
Tuy nhiên, những năm gần đây không cho thấy bất cứ sự suy giảm nào về những gì mà nhiều người có ảnh hưởng trong Công Giáo và Tin lành tin là những đức tính của chủ nghĩa duy nữ. Những nỗ lực mới nhằm tích hợp, định nghĩa và thực hiện các lý tưởng duy nữ vào Kitô giáo có thể dễ dàng tìm thấy tại các trường đại học, trang tin tức, blog, podcast và trong các tài liệu giảng dạy hoặc giáo lý. Vẫn còn một niềm tin chung rằng chủ nghĩa duy nữ đủ linh hoạt để phù hợp với ngay cả những tín hữu Kitô giáo nhiệt thành nhất. Tuy nhiên, niềm tin này đang chứng tỏ là vô cùng sai lầm đối với hàng triệu tín hữu Kitô giáo trung thành, không hề hay biết.
Kết quả không mấy tốt đẹp. Có rất ít sự khác biệt giữa phụ nữ Kitô giáo và những người phụ nữ thế tục khi nói đến các thực hành huyền bí hoặc tìm cách phá thai. Phụ nữ Công Giáo sử dụng biện pháp tránh thai với tỷ lệ gần như tương đương với dân số nói chung, bất chấp giáo huấn không bao giờ lay chuyển của Giáo hội chống lại điều đó. Trong khi đó, tỷ lệ kết hôn thấp nhất trong lịch sử, tỷ lệ sinh giảm mạnh, và không hiếm khi nghe thấy các tín hữu Kitô giáo, cùng với phụ nữ thế tục, nói rằng họ quá ích kỷ để có con. Hệ tư tưởng duy nữ đã cuốn tất cả chúng ta vào quỹ đạo của nó bằng cách này hay cách khác.
Tác hại đã lan rộng khắp nền văn hóa. Đàn ông và con trai đang phải chịu đựng sự thiếu trân trọng đối với những tài năng và mục đích mà Chúa ban cho họ do sự quá chú trọng vào việc trao quyền cho phụ nữ. Hôn nhân đã trở thành một thứ xa xỉ mà phụ nữ nghèo không thể tiếp cận, trao nhiều người “đã kết hôn” cho chính phủ để được chăm sóc và hỗ trợ tài chính cho con cái. Trong khi đó, phụ nữ thuộc mọi tầng lớp muốn kết hôn thường vẫn độc thân. Những người khác tìm kiếm mối quan hệ phải chịu đựng những sự sỉ nhục thường thấy trong văn hóa hẹn hò chóng vánh. Chủ nghĩa duy nữ được xem như một điểm khởi đầu để tìm kiếm bạn đời có tương lai. Sự mờ nhạt giữa thông điệp tin mừng mà Chúa Giêsu truyền đạt và lời kêu gọi mạnh mẽ không kém về việc trao quyền cho phụ nữ đã bỏ lại phía sau nhiều người mà lẽ ra nó phải giúp đỡ, đặc biệt là người nghèo, người yếu thế và người dễ bị tổn thương.
Giống như phù thủy xứ Oz, sự hào nhoáng của chủ nghĩa duy nữ đã hứa hẹn rất nhiều nhưng đang chứng tỏ không chỉ trống rỗng mà còn nguy hiểm. Chủ nghĩa duy nữ được trình bày như một phong trào “quyền của phụ nữ”, phục vụ mục đích tốt đẹp nói chung bằng cách cung cấp cho phụ nữ việc làm, giáo dục, cơ hội và sự trao quyền. Nhưng khi chúng ta dám vén bức màn để phơi bày nguồn gốc triết học của nó, chúng ta thấy một thực tế nham hiểm hơn nhiều.
Giáo sư văn học Janice Fiamengo, người đã nhiều năm là một người ủng hộ duy nữ tận tụy, sau khi nghiên cứu về nguồn gốc đen tối của chủ nghĩa duy nữ, cho rằng “mọi người đều nghĩ rằng họ biết điều gì đó về chủ nghĩa duy nữ, và rất ít những gì họ nghĩ rằng họ biết hầu như hoàn toàn sai lầm.” Những người cố gắng liên kết chủ nghĩa duy nữ với Kitô giáo đương thời thường có xu hướng tô vẽ phong trào này một cách ôn hòa, với định nghĩa đơn giản như “chủ nghĩa duy nữ là về việc giúp đỡ phụ nữ”. Những người khác thì cụ thể hơn, như John G. Stackhouse: “Chủ nghĩa duy nữ chỉ có nghĩa là chúng ta đề cao phẩm giá, quyền lợi, trách nhiệm và vinh quang của phụ nữ ngang bằng về tầm quan trọng — không hơn, nhưng chắc chắn không kém — so với nam giới, và chúng ta phản đối sự phân biệt đối xử với phụ nữ”. Tất cả điều này nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng mọi thứ nhanh chóng trở nên phức tạp khi chúng ta xem xét các chi tiết cụ thể, chẳng hạn như nam giới và phụ nữ có những trách nhiệm khác nhau, hoặc hình thể vật chất thể hiện một phẩm giá bình đẳng nhưng loại trừ lẫn nhau.
Nhưng có lẽ quan trọng nhất, những định nghĩa kiểu này không phải là những gì mà những người theo chủ nghĩa duy nữ (thuộc bất cứ làn sóng nào) muốn nói đến khi nhắc đến chủ nghĩa duy nữ. Tuy nhiên, chính sự mơ hồ này đã cho phép chủ nghĩa duy nữ tự do ảnh hưởng, chi phối và gây nhầm lẫn cho quần chúng. Phong trào này đã trở thành một thế lực trí thức khổng lồ chỉ bằng cách không tự định nghĩa mình ngoài một vài cụm từ sáo rỗng, như “chủ nghĩa duy nữ là niềm tin rằng phụ nữ cũng là con người” hoặc “chủ nghĩa duy nữ là quyền bình đẳng cho phụ nữ”. Dưới vỏ bọc của một điều rất tốt đẹp, hầu hết nền văn hóa phương Tây đã vô tình bị cuốn vào một điều rất xấu xa.
___________________________________________________
(*) Carrie Gress, Tiến sĩ, là nghiên cứu viên tại Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng và là học giả tại Viện Sinh thái Nhân văn thuộc Đại học Công Giáo Hoa Kỳ. Bà là biên tập viên của tạp chí trực tuyến dành cho phụ nữ Theology of Home và đồng tác giả của loạt sách của tạp chí này. Với bằng tiến sĩ từ Đại học Công Giáo Hoa Kỳ, bà là tác giả của một số cuốn sách, bao gồm The End of Woman: How Smashing the Patriarchy Has Destroyed Us, The Marian Option: God’s Solution to a Civilization in Crisis và The Anti-Mary Exposed: Rescuing the Culture from Toxic Femininity. Carrie là đồng tác giả với George Weigel của cuốn City of Saints: A Pilgrims Guide to John Paul II’s Krakow. Là một bà mẹ dạy con tại nhà với năm đứa con, bà và gia đình sống ở Virginia. Ghé thăm blog của bà tại www.carriegress.com.