1. 40 Bài Tĩnh Tâm Mùa Chay: Thứ Năm, Tuần Thứ 3 Mùa Chay, Ngày 12 Tháng 3 Năm 2026
Gr 7:23-28
Tv 94(95):1-2, 6-9
Lc 11:14-23
Ai không đi với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp là phân tán (Lc 11:23)
Đến thời điểm này trong Mùa Chay, chúng ta đã thấy những lời nhắc đến ma quỷ và Sa-tan xuất hiện đây đó: Chúa Giêsu bị Sa-tan cám dỗ nhưng không bị thuyết phục, và giờ đây, khi Chúa Giêsu giải thoát một người khỏi tà thần, dân chúng lại buộc tội Ngài thông đồng với quỷ Beelzebul. Chúng ta có thể bị cám dỗ bỏ qua việc Phúc Âm trình bày về những kẻ tay sai của cái ác như Sa-tan và các thiên thần sa ngã khác. Là những người mong muốn theo Chúa Kitô, chúng ta có thể nghĩ rằng thế giới tâm linh đen tối không liên quan gì đến chúng ta. Ở một khía cạnh nào đó, điều này là đúng - Chúa Kitô đã chiến thắng cái ác, đang dẫn dắt chúng ta vào Vương quốc của Ngài, và đang bảo vệ chúng ta khỏi ảnh hưởng của cái ác. Tuy nhiên, chúng ta không miễn nhiễm với những cám dỗ của kẻ ác và bè lũ của hắn.
Tác phẩm “Những bức thư của Screwtape” của C. S. Lewis mang đến một bức tranh hài hước nhưng cũng đầy suy ngẫm về chiến thuật của các thiên thần sa ngã thông qua thư từ trao đổi giữa một con quỷ dày dạn kinh nghiệm là Screwtape và một con quỷ cấp dưới. Screwtape khuyên: “Chính sách của chúng ta lúc này là che giấu bản thân... Nếu bất kỳ gợi ý mờ nhạt nào về sự tồn tại của anh bắt đầu nảy sinh trong tâm trí hắn, hãy gợi cho hắn một hình ảnh về thứ gì đó mặc quần bó màu đỏ, và thuyết phục hắn rằng vì hắn không thể tin vào điều đó... nên hắn cũng không thể tin vào anh” (Chương 7).
Ngược lại, chúng ta có thể nảy sinh sự quan tâm không lành mạnh hoặc thái quá đối với Sa-tan, vô tình gạt bỏ Thiên Chúa sang một bên, hoặc đánh mất niềm tin vào Ngài.
Hôm nay, Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng sự ác là có thật, và kêu gọi chúng ta chọn con đường trung đạo và ở gần Ngài, vì “ai không ở với Ta thì chống lại Ta; ai không cùng Ta thu góp thì phân tán” (Lc 11:23).
Lạy Chúa Giêsu, Ngài là Chúa tể muôn vật, và vương quốc của Ngài ở giữa chúng ta. Xin giữ con ở gần Ngài. Amen.
Sr Anastasia Reeves OP
Source:VietCatholic
2. Đức Hồng Y Sako: Các tín hữu Kitô giáo ở Iraq 'rất lo lắng' về cuộc chiến tranh với Iran.
Phát biểu rằng “chúng tôi đã từng trải qua điều này trước đây”—ám chỉ cuộc xâm lược Iraq năm 2003 của Mỹ—nhà lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo Chanđê cho biết các tín hữu Kitô giáo ở Iraq “rất lo lắng” về cuộc chiến với Iran.
“Không ai biết cuộc chiến này sẽ dẫn đến đâu,” Hồng Y Louis Raphaël Sako nói trong một cuộc phỏng vấn với Vatican News. “Chúng tôi lo sợ vì chúng tôi là láng giềng của Iran, và nhiều người Iraq là người Shiite. Đó là mối lo ngại kép.”
Đức Hồng Y Thượng Phụ Công Giáo nghi lễ Chanđê nhắc lại rằng trước cuộc xâm lược do Mỹ dẫn đầu năm 2003, dân số Kitô giáo ở Iraq vào khoảng 1,5 triệu đến 2 triệu người, và hiện nay đã giảm xuống chỉ còn khoảng 200.000 người.
“Tình hình tương tự cũng sẽ xảy ra ở Iran,” Đức Hồng Y cảnh báo và nhấn mạnh rằng “Nó còn có tác động nguy hiểm đến cả chúng tôi ở Iraq nữa.”
“Chúng tôi, những người Kitô hữu, rất lo lắng, bởi vì nếu họ bắt đầu tấn công vùng đồng bằng Ninivê, nơi có 50.000 người Kitô hữu sinh sống, những người này sẽ phải rời bỏ nhà cửa – và lần này, họ sẽ không trở về”, ngài nói.
Đức Hồng Y giải thích rằng cuộc xâm lược Iraq của Mỹ đã tạo ra một khoảng trống quyền lực, một vùng đất màu mỡ cho việc hình thành các lực lượng dân quân giáo phái Shiite với một chủ trương thâm độc là tận diệt các Kitô Hữu.
Người Kitô giáo đã trở thành mục tiêu của bạo lực giáo phái, bị đuổi khỏi quê hương đã sinh sống suốt 14 thế kỷ. Gần hai phần ba số người Kitô giáo ở Iraq thuộc Giáo Hội Công Giáo Chanđê.
Đức Hồng Y Sako cho biết từng có những cộng đồng Kitô giáo thịnh vượng trên khắp Iraq: ở thủ đô Baghdad, ở Basra phía nam, cũng như ở Kirkuk, Mosul và Kurdistan phía bắc.
“Ngày nay ở Mosul, hầu như không còn người Kitô hữu nào. Trước khi bạo lực giáo phái và cuộc tấn công của Nhà nước Hồi giáo nổ ra, có hơn 30.000 người. Tôi từng là linh mục quản xứ ở đó”, ngài nói.
“Sau khi Mosul được giải phóng khỏi Nhà nước Hồi giáo, tôi đến đó một tuần sau và thấy rằng tất cả các nhà thờ của chúng tôi đã bị phá hủy. Những nhà thờ này có niên đại từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 10 sau Chúa Giáng Sinh. Chúng không còn nữa. Chúng tôi lo sợ rằng điều tương tự sẽ xảy ra ở Iran, và cả Iraq cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi chiến tranh”, ngài nói.
Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng các cuộc xung đột hỗn loạn ở Iraq đã làm rạn nứt bức tranh đa dạng về tôn giáo và sắc tộc của đất nước. Tất cả các cộng đồng khác nhau “hiện đang bị chia rẽ hơn nữa. Đây là một hiện tượng, một tình huống chưa từng tồn tại trước đây.”
“Dần dần, người Kitô hữu sẽ rời đi. Họ không thể sống chung với những người coi họ là kẻ bội giáo hoặc vô thần. Nhưng Giáo hội, cùng với chính phủ và những người khác, đang cố gắng thuyết phục họ ở lại. Iraq là lịch sử của họ, là bản sắc của họ, ngay cả khi họ phải vất vả đấu tranh giữ gìn truyền thống, và đức tin của mình.”
“Chúng tôi có vấn đề. Chúng tôi đang chịu đựng, nhưng chúng tôi có một sứ mệnh và một ơn gọi ở đây. Việc chúng tôi được sinh ra ở đây không phải là ngẫu nhiên,” ngài nói.
“Ngoài ra, chúng ta cũng phải làm chứng cho anh chị em Hồi giáo của mình về hành vi, đức tin và đạo đức của chúng ta. Tôi nghĩ điều này rất quan trọng. Ở đây, mọi người rất gắn bó với nhà thờ của họ”, ngài nói thêm.
Thách thức mới nhất đến từ các lực lượng dân quân Shiite, có liên hệ với Iran, những lực lượng đã giúp giải phóng các khu vực của người Kitô giáo và Yazidi từng nằm dưới sự kiểm soát của Nhà nước Hồi giáo. Ảnh hưởng và sự hiện diện của các lực lượng dân quân Shiite đang gây lo ngại tại các thị trấn mà trước khi Nhà nước Hồi giáo nắm quyền vào năm 2014, phần lớn, nếu không muốn nói là hoàn toàn, là người Kitô giáo.
“Có một chiến lược nhằm thay đổi cấu trúc dân số của đồng bằng Ninivê. Hiện nay, các nhóm dân quân đang tìm cách thiết lập trụ sở tại Bartella, nơi hoàn toàn là người Kitô giáo. Ngoài ra, các nhóm dân quân này còn hiện diện ở Sinjar của người Yazidi, gần biên giới Syria”, Đức Hồng Y Sako nói.
“Nhiều Kitô hữu và người Yazidi đã bị buộc phải rời bỏ nhà cửa và hiện đang sống ở Âu Châu, Syria, Li Băng, Jordan và Thổ Nhĩ Kỳ. Họ cần tiền để sinh tồn, vì vậy họ đang bán nhà cửa của mình”, ngài nói. “Các nhóm dân quân có tiền vì được các đảng phái và một số quốc gia hỗ trợ, nên họ đang mua lại bất động sản.”
Tuy nhiên, trong những trường hợp khác, các lực lượng dân quân Shiite chỉ đơn giản là tuyên bố chủ quyền và xâm lược các tòa nhà và vùng đất, theo nhận định của các nhà quan sát.
Đức Hồng Y Sako cho biết một số gia đình Kitô giáo đã trở về thị trấn của họ, “nhưng nhiều nhà cửa đã bị đốt cháy, bị phá hủy hoàn toàn. Chúng tôi cần tiền để xây dựng lại chúng và các nhà thờ. Công Giáo Chanđê có hơn 15 nhà thờ ở Mosul bị phá hủy hoàn toàn. Ai sẽ xây dựng lại chúng?” ngài hỏi. Mặc dù đã có sự hỗ trợ tài chính từ Giáo hội, nhiều nhóm cứu trợ khác nhau, Hoa Kỳ và Hung Gia Lợi, nhưng phần lớn cơ sở hạ tầng của các thị trấn vẫn cần được tái thiết.
Đức Hồng Y Sako chỉ ra một dự án đang được Iraq tiến hành để xây dựng lại Thánh đường Hồi giáo lớn al-Nuri ở Mosul, bị Nhà nước Hồi giáo phá hủy. Ngài nói rằng một địa danh quan trọng khác nằm đối diện với thánh đường là Nhà thờ Đức Mẹ Phù Hộ Các Tín Hữu, được xây dựng vào năm 1866 bởi các cha dòng Đa Minh. Mặc dù đã có lời hứa xây dựng lại, nhưng cho đến nay vẫn chưa có nhiều tiến triển.
“Đây là một hình thức phân biệt đối xử. Không ai nghĩ đến người Kitô hữu vì họ là thiểu số,” ngài nói. “Cần phải có sự tương hỗ.”
Source:Catholic World News
3. Các Hội Đồng Giám Mục trên toàn thế giới cùng chung một thông điệp về Iran.
Phản ứng của các Hội Đồng Giám Mục Công Giáo trên toàn thế giới trước sự leo thang xung đột ở Iran sau cái chết của giáo chủ Hồi giáo nước này đã cho thấy sự tương phản rõ rệt giữa ngôn từ của Giáo hội và những tính toán chính trị của nhà cầm quyền Hoa Kỳ và Israel.
Trong khi các Hội Đồng Giám Mục phần lớn đều đồng ý kêu gọi kiềm chế, cầu nguyện và đối thoại, thì phản ứng của các chính phủ quốc gia lại rất khác nhau, từ công khai ủng hộ các cuộc tấn công quân sự đến lên án thẳng thừng.
Hội đồng Giám mục Á Căn Đình là một trong những tổ chức đầu tiên lên tiếng. Trong một tuyên bố được đưa ra vào ngày 28 tháng 2, các giám mục mô tả những cảnh tượng đang diễn ra trong khu vực là “đáng kinh hoàng” và cảnh báo rằng sự tàn phá sẽ bùng phát do cuộc đối đầu này. “Những thực tế này khiến chúng ta đau lòng sâu sắc và nhắc nhở chúng ta rằng bạo lực không bao giờ là cách để giải quyết xung đột và chỉ mang lại sự tàn phá”, các Đức Giám Mục nói, đồng thời kêu gọi các tín hữu Công Giáo cầu nguyện tha thiết cho “sự chấm dứt mọi xung đột” và trở thành “những người kiến tạo hòa bình”.
Lập trường của chính phủ Á Căn Đình lại hoàn toàn khác biệt. Chính quyền của Tổng thống theo chủ nghĩa tự do Javier Milei nổi lên như một trong những bên ủng hộ quốc tế mạnh mẽ nhất chiến dịch chung giữa Hoa Kỳ và Israel nhằm tiêu diệt lãnh đạo Iran và tấn công các cơ sở quân sự và hạt nhân trọng yếu. Các tuyên bố của chính phủ ca ngợi việc “loại bỏ” Ayatollah Ali Khamenei như là việc xóa bỏ một trong những nhân vật “ác độc nhất” trong lịch sử và lập luận rằng các cuộc tấn công sẽ thúc đẩy sự ổn định lâu dài trong khu vực.
Chính phủ Á Căn Đình đã ra tuyên bố: “Văn phòng Tổng thống hoan nghênh chiến dịch chung do Hoa Kỳ và Israel tiến hành ngày hôm nay, dẫn đến việc tiêu diệt Ali Khamenei, Lãnh đạo tối cao của Cộng hòa Hồi giáo Iran, một trong những cá nhân độc ác, bạo lực và tàn nhẫn nhất trong lịch sử nhân loại.”
Tại khu vực Mỹ Latinh, nơi hầu hết các chính phủ đều lên tiếng chỉ trích cuộc tấn công của Hoa Kỳ và Israel, Á Căn Đình gần như là quốc gia duy nhất công khai ủng hộ chiến dịch này.
Một sự tương phản tương tự cũng xuất hiện ở Úc. Hội đồng Giám mục Công Giáo Úc đã bày tỏ sự đau buồn trước những hậu quả về con người của cuộc xung đột trong một tuyên bố được đưa ra vào đầu tháng 3. “Việc mất mát sinh mạng, nỗi sợ hãi và sự bất an mà người dân thường phải trải qua, cùng với sự bất ổn của một khu vực vốn đã mong manh, đang đè nặng lên trái tim chúng tôi”, các giám mục cho biết.
Tuy nhiên, chính phủ Úc đã có lập trường gần như hoàn toàn phù hợp với Washington. Thủ tướng Anthony Albanese cho biết nước ông ủng hộ những nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân và tuyên bố rằng ông sẽ “không thương tiếc” cái chết của nhà lãnh đạo Iran. Úc đã đưa ra cảnh báo du lịch cho công dân Úc trong khu vực và kêu gọi họ rời khỏi các khu vực bị ảnh hưởng, trong khi Ngoại trưởng Penny Wong từ chối tham gia vào các cuộc tranh luận pháp lý về các cuộc tấn công, chuyển những câu hỏi đó cho Hoa Kỳ và Israel.
Tại Ấn Độ, giọng điệu trong tuyên bố của các giám mục phản ánh mối lo ngại về hậu quả nhân đạo của việc leo thang xung đột. Hội đồng Giám mục Công Giáo Ấn Độ tuyên bố vào ngày 3 tháng 3 rằng các ngài “vô cùng lo ngại về tình trạng căng thẳng leo thang và xung đột đang diễn ra”, thương tiếc “sự mất mát bi thảm của những sinh mạng vô tội, đặc biệt là trẻ em dễ bị tổn thương”. Các giám mục kêu gọi các nhà lãnh đạo chính trị “tham gia vào cuộc đối thoại mang tính xây dựng” và “lựa chọn hòa bình thay vì bạo lực một cách có ý thức”. Họ cảnh báo rằng “bạo lực và xung đột chỉ làm nảy sinh thêm đau khổ và tuyệt vọng” và kêu gọi các tín hữu cầu nguyện đặc biệt trong Mùa Chay.
Tương tự, phản ứng chính trị của New Delhi hướng đến sự cân bằng thận trọng. Thủ tướng Narendra Modi mô tả tình hình là một “mối lo ngại nghiêm trọng”, nhấn mạnh rằng “xung đột quân sự không thể giải quyết bất kỳ vấn đề nào”. Ấn Độ kêu gọi kiềm chế, ngoại giao và bảo vệ thường dân, đồng thời tránh lên án trực tiếp các cuộc tấn công. Trọng tâm chính của chính phủ là bảo vệ công dân Ấn Độ trong khu vực và duy trì sự cân bằng ngoại giao giữa các đối tác khác nhau, một đường lối đã vấp phải sự chỉ trích trong nước từ những người cho rằng chính phủ đã nghiêng quá nhiều về phía Israel. Đối với Ấn Độ, tình hình này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì cộng đồng người Ấn Độ ở Trung Đông rất đông, với hơn 35% dân số Các Tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất là người Ấn Độ và hơn 30% ở Oman.
Trên khắp Bắc Phi, các Hội Đồng Giám Mục khu vực đã đưa ra một trong những lời lên án mạnh mẽ nhất về mặt thần học đối với cuộc xung đột. Phát biểu thay mặt hội đồng vào ngày 9 tháng 3, phó chủ tịch hội đồng, Đức Cha Nicolas Lhernould, cho biết các sự kiện đang được theo dõi “với nỗi buồn sâu sắc”. “Chiến tranh không bao giờ là con đường dẫn đến hòa bình: nó luôn là sự thất bại của hòa bình”, ngài nói. “Bạo lực không giải quyết được nỗi đau khổ; nó chỉ làm trầm trọng thêm nỗi đau khổ”. Ngài lưu ý rằng các cộng đồng Kitô giáo ở Maroc đã tuyên bố rằng họ “kiên quyết bác bỏ việc sử dụng bạo lực và chiến tranh như một phương pháp giải quyết xung đột giữa các dân tộc và quốc gia dựa trên toàn bộ sức mạnh của Phúc Âm”.
Tuy nhiên, chính phủ các nước Bắc Phi phần lớn tránh đưa ra lập trường công khai, thay vào đó tập trung vào sự thận trọng về ngoại giao và ổn định khu vực.
Trên phạm vi Á Châu nói chung, Liên đoàn các Hội đồng Giám mục Á Châu đã lặp lại ngôn ngữ đạo đức tương tự như những gì đã được nghe thấy ở những nơi khác trong Giáo hội. Liên đoàn kêu gọi “chấm dứt ngay lập tức các hành động thù địch” và thúc giục tất cả các bên thực hiện “trách nhiệm đạo đức” để chống lại điều mà họ mô tả là vòng xoáy leo thang. “Hòa bình không thể được xây dựng trên những lời đe dọa hay vũ khí gieo rắc sự tàn phá, đau khổ và chết chóc”, các giám mục nói, nhấn mạnh rằng sự ổn định chỉ có thể đạt được thông qua “đối thoại chân thành, có trách nhiệm và bền vững”.
Các giám mục Ái Nhĩ Lan đã đưa ra một trong những lời chỉ trích mạnh mẽ nhất trong số các Hội Đồng Giám Mục Âu Châu. Trong tuyên bố ngày 4 tháng 3, các ngài cảnh báo rằng Trung Đông một lần nữa đang trải qua “một cuộc chiến tranh phi nghĩa với sự mất mát sinh mạng của những người vô tội”. “Chiến tranh hoàn toàn tàn phá… Chiến tranh không phải là giải pháp”, các ngài nói. “Không một nhà lãnh đạo chính trị nào có quyền phát động chiến tranh tùy ý”. Các giám mục cùng với Đức Giáo Hoàng kêu gọi cộng đồng quốc tế ngăn chặn điều mà các ngài gọi là “vòng xoáy bạo lực trước khi nó trở thành một vực thẳm không thể vượt qua”, và các ngài mời gọi các tín hữu Công Giáo thực hiện cầu nguyện và ăn chay Mùa Chay vì hòa bình.
Chính phủ Ái Nhĩ Lan đã đưa ra quan điểm tương tự như các giám mục, mặc dù được diễn đạt bằng ngôn từ ngoại giao. Thủ tướng Micheál Martin bày tỏ “mối quan ngại sâu sắc” và kêu gọi tất cả các bên kiềm chế để ngăn chặn một cuộc xung đột khu vực rộng lớn hơn. Các nhân vật đối lập, bao gồm các lãnh đạo từ Sinn Féin, Đảng Lao động và Đảng Dân chủ Xã hội, còn đi xa hơn khi mô tả hành động quân sự là “hành động gây hấn vô cớ” và vi phạm luật pháp quốc tế.
Hội đồng Giám mục Công Giáo Nam Phi cũng bày tỏ sự cảm thông đối với những người bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng. Các giám mục đã gửi “lời chia buồn sâu sắc nhất tới các gia đình tang quyến, cộng đồng Hồi Giáo Shiite và người dân Iran” sau cái chết của nhà lãnh đạo đất nước, một tình cảm dường như vượt xa nhiều ý kiến khác. Các ngài cũng kêu gọi “trách nhiệm đạo đức để ngăn chặn bạo lực leo thang” và nhắc lại lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng về “ đối thoại hợp lý, chân thành và có trách nhiệm” như là con đường duy nhất có khả năng bảo vệ mạng sống con người.
Chính phủ Nam Phi đã có lập trường cứng rắn đối với sự can thiệp quân sự. Tổng thống Cyril Ramaphosa mô tả bạo lực là “sự điên rồ” và kêu gọi chấm dứt ngay lập tức các hành động thù địch. Pretoria kêu gọi tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp quốc tế và đề nghị hỗ trợ hòa giải ngoại giao.
Có lẽ sự khác biệt rõ rệt nhất giữa Giáo hội và nhà nước lại nằm ngay tại Hoa Kỳ. Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ đã cảnh báo vào ngày 1 tháng 3 rằng cuộc xung đột có nguy cơ leo thang thành một cuộc chiến tranh khu vực. Đức Tổng Giám Mục Paul S. Coakley, phát biểu với tư cách là chủ tịch hội đồng, nói rằng “cuộc xung đột đang leo thang có nguy cơ leo thang thành một cuộc chiến tranh khu vực rộng lớn hơn” và cảnh báo rằng nhân loại đang đối mặt với khả năng “một thảm kịch với quy mô khổng lồ”. Các giám mục kêu gọi các nhà lãnh đạo chính trị ngừng leo thang và quay trở lại “sự tham gia ngoại giao đa phương” nhằm bảo đảm công lý và hòa bình. Họ yêu cầu các tín hữu Công Giáo cầu nguyện cho cả thường dân và binh lính, và cầu xin các nhà lãnh đạo lựa chọn “đối thoại thay vì hủy diệt”.
Hoa Kỳ là chủ mưu chính của chiến dịch quân sự này. Tổng thống Trump đã cho phép thực hiện chiến dịch, được gọi là “Chiến dịch Cuồng nộ Vĩ đại”, tiến hành các cuộc tấn công quy mô lớn nhằm vào các cơ sở hạt nhân, cơ sở hạ tầng hỏa tiễn và các mục tiêu lãnh đạo cao cấp của Iran bắt đầu từ ngày 28 tháng 2. Chính quyền biện minh cho các cuộc tấn công là cần thiết để ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân và loại bỏ các mối đe dọa đối với an ninh khu vực. Tổng thống Trump cũng kêu gọi người dân Iran lật đổ chính phủ của họ và nói vào ngày 9 Tháng Ba rằng chiến dịch này “gần như đã hoàn tất”. Tuy nhiên, một ngày sau, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Pete Hegseth mô tả ngày 10 tháng 3 là ngày “căng thẳng nhất” của cuộc chiến chống Iran.
Source:Catholic Herald
4. Đức Cha Eleganti lên tiếng về vạ tuyệt thông đối với SSPX.
Đức Cha Marian Eleganti đã bác bỏ những tuyên bố cho rằng bất kỳ vạ tuyệt thông nào của Vatican áp đặt lên Huynh Đoàn Thánh Piô X vì kế hoạch tấn phong giám mục vào ngày 1 tháng 7 đều có thể không hợp lệ. Ngài nói với tờ Catholic Herald trong một bình luận độc quyền rằng những lập luận như vậy đã hiểu sai bản chất của sự ly giáo.
Sự can thiệp của ngài xuất phát trực tiếp từ những nhận xét của Đức Cha Athanasius Schneider, người cho rằng việc vạ tuyệt thông đối với SSPX sẽ không có hiệu lực vì Huynh Đoàn không có ý định tách rời khỏi Rôma.
Theo trang Pelican+, Đức Cha Schneider đã đưa ra nhận xét này trong một cuộc họp riêng gần đây của Hội huynh đệ Đức Mẹ Fatima. Theo tường thuật về cuộc họp, Giám Mục Phụ Tá của Astana lập luận rằng ý định của Huynh Đoàn là yếu tố quyết định khi xem xét các ý nghĩa giáo luật của buổi lễ tấn phong Giám Mục trái phép ngày 1 tháng 7.
“Ban lãnh đạo SSPX không có ý định tách rời khỏi Rôma,” Đức Cha Schneider nói.
Ngài nói thêm rằng việc thiếu đi ý định như vậy sẽ đặt ra câu hỏi liệu Giáo hội có thể hợp pháp áp đặt những hình phạt giáo luật nghiêm khắc nhất đối với Huynh Đoàn nếu các lễ tấn phong vẫn được tiến hành hay không.
“Do đó, tôi nghĩ rằng, nếu án phạt vạ tuyệt thông được áp dụng, thì nó sẽ không có hiệu lực vì không có ý định phạm tội ly giáo từ phía Huynh Đoàn Thánh Piô X, và theo giáo luật, người ta không thể bị trừng phạt khi không có ý định làm điều đó”, ngài nói.
Trong thời kỳ Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Giám mục Schneider giữ vai trò là người đại diện chính thức của Huynh Đoàn Thánh Piô X, gọi tắt là SSPX, điều này giúp ngài có cái nhìn sâu sắc hiếm có về đời sống nội bộ của phong trào trong giai đoạn mà Tòa Thánh đang cố gắng đánh giá kỹ lưỡng hơn vị thế của Huynh Đoàn. Ngài cũng đã công khai kêu gọi Đức Giáo Hoàng Lêô XIV xem xét phê chuẩn các lễ tấn phong giám mục do Huynh Đoàn đề ra thay vì lên án, coi bước đi này như một cầu nối khả thi hướng tới sự hòa giải giữa Vatican và SSPX.
Tuy nhiên, Đức Cha Eleganti, Giám Mục Phụ Tá đã nghỉ hưu của Chur ở Thụy Sĩ, đã bác bỏ lập luận này, khẳng định rằng việc không có ý định tuyên bố đoạn tuyệt với Rôma sẽ không làm thay đổi bản chất khách quan của hành động đó.
“Việc tuyên bố một ý định đáng ngờ không giúp ích gì cả,” Đức Cha Eleganti nói. “Đó là một cách, nói rằng họ không có ý định ly giáo, để lừa dối mọi người về bản chất ly giáo khách quan và hậu quả của hành động bất tuân đó.”
“Đó là một mưu đồ nhằm thực hiện quyền tự trị tuyệt đối trong khi giả vờ hiệp nhất với Đức Giáo Hoàng. Trên thực tế, điều đó không đúng chừng nào Đức Giáo Hoàng chưa chấp thuận hoặc cho phép các lễ tấn phong này,” Đức Cha Eleganti nói.
Vị giám mục người Thụy Sĩ đã trình bày chi tiết hơn những lo ngại của mình trong các bình luận tiếp theo với tờ Catholic Herald, lập luận rằng vấn đề này phải được đánh giá dựa trên những hành động cụ thể của Huynh Đoàn chứ không phải dựa trên những ý định mà các nhà lãnh đạo của Huynh Đoàn tuyên bố.
“Vấn đề không phải là những gì họ tuyên bố hay khẳng định, mà là những sự thật họ tạo ra,” Đức Cha Eleganti nói. “Vấn đề không chủ yếu nằm ở ý định mà là ở những sự thật và hành vi khách quan.”
Vị giám mục cũng nêu ra bốn điểm mà ngài tin rằng thể hiện một mô hình độc lập khỏi quyền lực của Giáo hội.
“Thứ nhất, hành động hoàn toàn tự chủ mà không có sự ủy quyền của Đức Giáo Hoàng hay sứ mệnh được xác nhận; thứ hai, hoạt động với các giám mục không hiệp thông với Đức Giáo Hoàng và Hội Đồng Giám Mục; thứ ba, duy trì hàng trăm linh mục không được nhập tịch; và cuối cùng, tồn tại trong một kiểu thiên đường về quyền tài phán thông qua việc tự cho mình là những người Công Giáo chân chính duy nhất, với các bí tích chân chính duy nhất, ít nhất là không có khiếm khuyết, và giáo lý chân chính duy nhất,” ngài nói.
Đức Cha Eleganti lập luận rằng những diễn biến này làm nổi bật một vấn đề giáo hội học sâu sắc hơn trong phong trào, cho thấy cấu trúc của nó ngày càng giống với cấu trúc của một Giáo hội song song.
“Họ tuyên bố không muốn có một Giáo hội bên cạnh Giáo hội hiện hữu, trong khi lại tạo ra một Giáo hội như vậy và hành xử theo cách hoàn toàn giống với Giáo hội đó”, ngài nói, mô tả lập trường này là mâu thuẫn về bản chất.
Ngài cũng đặt câu hỏi liệu Huynh Đoàn có thực sự tìm kiếm sự hòa giải về mặt giáo luật với Rôma hay không, đồng thời cho rằng việc hợp thức hóa hoàn toàn sẽ làm suy yếu tính độc lập mà Huynh Đoàn hiện đang được hưởng.
“Điều đó không thành thật bởi vì, thành thật mà nói, họ không muốn bất kỳ sự hợp thức hóa nào,” ngài nói. “Điều đó có nghĩa là họ sẽ mất đi quyền tự chủ và phải phục tùng điều mà họ coi là một Giáo hội toàn cầu sai lầm. Và trên thực tế, đó chính xác là một tư tưởng và hành vi ly khai.”
Quan hệ giữa SSPX và Tòa Thánh đã trải qua nhiều biến động trong những thập niên qua. Vào những năm 1970 và 1980, quan hệ này xấu đi đáng kể. Cuộc khủng hoảng đạt đỉnh điểm vào năm 1988 khi Đức Tổng Giám Mục Marcel Lefebvre phong chức cho bốn giám mục mà không có sự cho phép của Đức Giáo Hoàng, với lý do rằng việc đó đòi hỏi sự tồn tại của chức linh mục truyền thống.
Hai thập niên sau, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 đã cố gắng nối lại đối thoại bằng cách dỡ bỏ lệnh vạ tuyệt thông đối với các giám mục còn sống sót vào năm 2009, mặc dù Huynh Đoàn vẫn khẳng định rằng các lệnh vạ tuyệt thông đó là không hợp lệ. Động thái này đã loại bỏ hình phạt giáo luật dễ thấy nhất nhưng không hoàn toàn hợp thức hóa vị thế của Huynh Đoàn trong Giáo hội.
Dưới thời Đức Giáo Hoàng Phanxicô, một số nhượng bộ hạn chế hơn nữa đã được thực hiện với tinh thần mục vụ. Các linh mục SSPX được phép giải tội trong Năm Thánh Lòng Thương Xót năm 2015, một quyền hạn sau đó được gia hạn vô thời hạn. Tòa Thánh cũng cho phép các giám mục địa phương cho phép các linh mục SSPX chứng kiến các lễ cưới trong một số điều kiện nhất định.
Giám mục Fellay, cựu bề trên tổng quyền của SSPX, cũng tuyên bố đã nhận được một bức thư từ Rôma nói rằng SSPX có thể “tự do phong chức linh mục cho các bạn mà không cần sự cho phép của giám mục địa phương”, do đó bỏ qua các bước thông thường của việc nhập giáo xứ.
Bất chấp những bước đi này, các cuộc đàm phán nhằm đạt được một giải pháp giáo luật lâu dài đã liên tục bị đình trệ, chủ yếu xoay quanh các vấn đề liên quan đến việc giải thích Công đồng Vatican II và phạm vi quyền lực của Đức Giáo Hoàng đối với đời sống nội bộ của Dòng.
Dòng Thánh Piô X vừa công bố một thông cáo và toàn văn bức thư của Bề trên Tổng quyền bác bỏ đề xuất từ Bộ Giáo lý Đức tin về việc nối lại các cuộc đàm phán giáo lý theo các điều kiện được đề xuất, đồng thời từ chối đình chỉ các lễ tấn phong giám mục dự kiến diễn ra vào ngày 1 tháng 7.
Source:Catholic Herald