Tin mừng Gia Đình trong nền văn hóa bão hòa về tình dục, chương năm, Ghi chú

Ghi chú

*Epikeia: do từ Hy Lạp épiekès có nghĩa là điều hợp lý. Theo nghĩa rộng, được hiểu là sự phán đoán thận trọng của một tư nhân, cho rằng luật pháp không được áp dụng trong trường hợp đặc thù nào đó, do những hoàn cảnh đặc biệt của trường hợp đó (Từ điển Đức tin Công Giáo, Pháp Việt, tr. 285).

1. Basilio Petrà, Divorziati risposati e seconde nozze nella Chiesa: Una via di soluzione [Những người ly hôn và tái hôn và cuộc hôn nhân thứ hai trong Giáo hội: Một giải pháp] (Assisi: Cittadella, 2012), p. 38.

2. Xem Báo cáo lần thứ 11 về Gia đình ở Ý (XI Rapporto Famiglia CISF), trong đó cũng trình bày một loạt số liệu thống kê về tình hình Châu Âu: Pierpaolo Donati, ed., La relazione di coppia oggi: Una sfida per la famiglia [Mối quan hệ ngày nay: Một thách thức cho gia đình] (Trento: Erickson, ).

3. X. Irène Théty, Le démariage: Justice et vie privée [Ly hôn: Công lý và Quyền sống riêng tư] (Paris: Odile Jacob, I993)

4. Những vấn đề này được đề cập đôi lần nhưng không được phân tích sâu; phần giới thiệu nêu ra một loạt vấn đề, nhưng một khi đã được liệt kê, chúng lại không được thảo luận: “Nhiều gia đình ngày nay thấy rằng họ đang phải đối diện với những khó khăn nghiêm trọng. Hàng triệu người rơi vào tình trạng di cư, chạy trốn, và di dời cưỡng bức, hoặc trong những hoàn cảnh khốn cùng, nơi mà một cuộc sống gia đình trật tự khó có thể tồn tại. Thế giới đương thời đang rơi vào một cuộc khủng hoảng nhân học. Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tiêu dùng thách thức văn hóa gia đình truyền thống. Điều kiện kinh tế thường khiến sự gắn kết gia đình và việc chung sống trở nên khó khăn hơn. Do đó, số lượng những người này những người chùn bước trước việc lập gia đình hoặc không đạt được mục tiêu cuộc đời, cũng như số lượng trẻ em không có may mắn được lớn lên trong một gia đình nề nếp, đã tăng lên đáng kể” (Tin Mừng Gia Đình, trang 1-2; nhấn mạnh thêm).

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng một cách trình bày khác về vấn đề này, lần này từ góc nhìn của những người đã ly hôn và tái hôn, xuất hiện trong ibid., trang 25. và trong kết luận cuối cùng (trang 33), trong đó tác giả thừa nhận rằng có “những tình huống mục vụ khó khăn khác chưa được đề cập trong bối cảnh này”.

5. Ibid., trang 25-26; nhấn mạnh được thêm vào.

6. So sánh Walter Kasper, Il Vangelo della famiglia [Tin mừng Gia đình] (Brescia: Queriniana, 2014), trang 42. Vì lý do nào đó, cụm từ này không xuất hiện trong bản tiếng Đức, bản dịch tiếng Anh có vẻ như có dựa trên.

7. Xem phần nói về "Gia đình như Giáo hội tại gia" trong sđd, các tr. 20-25, trong đó ngài tuyên bố, “(Gia đình] không chỉ là đối tượng, mà còn là chủ thể của việc chăm sóc mục vụ gia đình” (tr. 23). Về chủ đề này, xin xem Giacomo Verrengia, la Famiglia, soggeto attivo e responsabile nell'evangelizzazione [Gia đình, một chủ thể tích cực và có trách nhiệm trong công cuộc truyền giảng tin mừng] (Naples: Laurenziana, 1996).

8. Điều này có thể được tóm tắt trong tuyên bố sau: “Trong gia đình, Giáo hội gặp gỡ thực tại cuộc sống. Do đó, gia đình là trường hợp thử nghiệm cho việc chăm sóc mục vụ và là trường hợp thử nghiệm nghiêm túc nhất cho công cuộc tân Tin mừng hóa” (Tin Mừng Gia đình, tr. 34). Về chủ đề này như là nguyên tắc của mục vụ hữu cơ, xin xem Claudio Giuliodori, “La famiglia cristiana, principala della nuova evangelizzazione e famiglia [Gia đình Kitô giáo, nguyên tắc của công cuộc truyền giảng tin mừng mới và gia đình]" (Siena: Cantagalli, 2014) tr. 87-110

9. Xem các tiểu luận trong Livio Melina, ed., “II futuro di una via: la fecondità di famaliaris consortio 30 anni dopo [Tương lai của một con đường: sự hữu hiệu của familiaris consortio 30 năm sau”, trong Anthropotes 28, no. 1 (2012).

10. Hãy xem sự phong phú của các chứng từ mục vụ trong Livio Melina, ed., Giovanni Paolo II, il Pupa della Famiglia [Đức Gioan Phaolô II, Giáo hoàng của Gia Đình] (Rome: Cantagalli, 2014).

11. Xem Evangelii Gaudium 111: “[Giáo hội] chắc chắn là một mầu nhiệm bắt nguồn từ Ba Ngôi, nhưng Giáo hội hiện hữu cụ thể trong lịch sử như một dân tộc hành hương và loan báo Tin Mừng” (được nhấn mạnh thêm)

12. Xem Deus Caritas Est 31 b: “Chương trình của người Kitô hữu—chương trình của người Samaritanô nhân hậu, chương trình của Chúa Giêsu—là ‘một trái tim biết nhìn’. Trái tim này nhìn thấy nơi nào cần tình yêu và hành động phù hợp. Rõ ràng khi hoạt động bác ái được Giáo hội thực hiện như một sáng kiến cộng đồng, tính tự phát của các cá nhân phải được kết hợp với việc lập kế hoạch, tầm nhìn xa và hợp tác với các định chế tương tự khác”.

13. Về vấn đề này, xem. Juan José Pérez-Soba, La verità dell'amore: Una luce per caminare: Esperienza, metafisica e fondamento della morale [Sự thật của tình yêu: Ánh sáng dẫn đường: Kinh nghiệm, siêu hình học và nền tảng của đạo đức] (Siena: Cantagalli, 2011)

14. Xem Lumen Gentium 27

15. Xem Evangelii Gaudium 63.

16.Xem José Granados, Nessuna famiglia è un'isola: Le radici di una istituzione nella società e nella Chiesa [Không Gia Đình Nào Là Một Hòn Đảo: Nguồn Gốc Của Một Định Chế Trong Xã Hội Và Giáo Hội] (Milan: Paoline, 2013).

17. Xem Giovanni Rossi, "Famiglia e transmissone della fede [gia đình và việc chuyển gia đức tin]" trong Peré-Soba, Nuova evangelizzazione e famiglia [tân Tin mừng hóa và gia đình], trang 35-75.

18. “Thánh lễ khai mạc Thượng Hội đồng Giám mục và tuyên bố Thánh Gioan Avila và Thánh Hildegard Bingen là ‘Tiến sĩ Hội thánh’ Bài giảng của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI”, ngày 7 tháng 10 năm 2012. Điều này dẫn ngài đến kết luận: “Điều [làm tôi ngạc nhiên] là Thượng Hội đồng đã nhiều lần nhấn mạnh đến tầm quan trọng của gia đình, đối với việc truyền bá đức tin, như là môi trường đích thực để truyền đạt bản thiết kế của sự hiện hữu con người” (“Diễn văn của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhân dịp Giáng sinh gửi Giáo triều Rôma”, ngày 21 tháng 12 năm 2012)

19. Gaudium et Spes 47

20. Gaudium et Spes 46.

21. Xem Livio Melina, "Il Vangelo della Famiglia, davanti a noi. Prefazione [Tin Mừng Gia Đình, trước mắt chúng ta. Lời tựa]" trong Livio Melina và José Granados, biên tập, Famiglia e nuova evangelizzazione: la chiave dell'annuncio [Gia đình và Công cuộc Truyền giảng Tin mừng Mới: Chìa khóa của việc loan báo] (Siena: Cantagalli, 2012) tr. 5-15

22. Xem Juan José Pérez-Soba, La pastorale familiare: tra programmazioni pastorali e generazione di una vita [Chăm sóc mục vụ gia đình: giữa kế hoạch mục vụ và việc sinh sản một sự sống] (Siena: Cantagalli, 2013). Ở đây bạn có thể tìm được các luận điểm biện minh cho các tuyên bố trên đây.

23. Livio Melina, José Noriega, và JuanJosé Pérez-Soba, Comminare nella luce dell'amore: I fondamenti della Morale Cristiana [Bước đi trong ánh sáng tình yêu: Nền tảng của đạo đức Kitô giáo], tái bản lần thứ 2. (Siena: Cantagalli, 2010),tr. 123.

24. Xem Angelo Scola, Identidad y Differentencia [đồng nhất và khác biệt] (Madrid: Encuentro, > 9 9) Về phần thảo luận sau đây, cf. Livio Melina, Azione epifania dell'amore: La morale cristiana oltre il moralismo e l'antimoralismo [Hành động Hiển Linh của Tình Yêu: Đạo đức Kitô giáo Vượt Lên Trên Chủ nghĩa Dạy đời và Phản Dạy đời](Siena: Cantagalli, 2008).

25. X. về điểm này Livio Melina, “ ‘Verità sul bene’: Razionalità pratica, etica filosofica e teologia morale: Da ‘Veritatis splendor’ a ‘Fides et ratio ['Chân lý về điều thiện': Lý trí thực tiễn, Đạo đức triết học và Thần học đạo đức: Từ 'Veritatis Splendor' đến 'Fides et Ratio’”, Anthropotes 15 (1999): 125—43

26. Xem Thánh Thomas Aquinas, Duo praecepta caritatis, Prol. III, số 1140: “Si quis habet omnia dona Spiritus sancti absque caritate, non habet vitam.” (Nếu ai đó có tất cả các ơn của Chúa Thánh Thần ngoại trừ đức ái, người ấy không có sự sống.)

27. Điều này được ám chỉ trong Tin Mừng Gia Đình, trang 25, nơi Đức Hồng Y trích dẫn Evangelii Gaudium 197-201

28. Xem Livio Melina, biên tập, Il criterio della natura e il futuro della famiglia [Tiêu chuẩn bản nhiên và tương lai của gia đình] (Siena: Cantagalli, 2011).

29. Tin Mừng Gia Đình, trang 29.

30. Như trên. P. 31 Ngài tiếp tục, “Ở đó, có một mục vụ khoan dung, nhân từ và độ lượng.

31. Veritatis Splendor 56

32. "Diễn văn của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô trong Buổi Khai mạc Năm Tư pháp của Tòa Roman Rota" 29 tháng giêng, 2010; bài diễn văn của ngài nói tới mối quan hệ giữa đức ái và công lý.

33. Xem Evangelii Gaudium 9: “Cái thiện luôn có xu hướng lan tỏa”

34. Xem Livio Melina, “Hành động vì lợi ích của Hiệp thông”, trong Lễ Hiển Linh Tình Yêu. Hướng tới sự hiểu biết thần học về hành động Kitô giáo (Grand Rapids, Mich.: Eerdman, 2010) trang 25-45.

35. Xem José Granados, " 'Trajo toda la novedad, al traerse a sí mismo':apuntes para una teologia de lo nuovo [Ông đã mang đến tất cả sự mới lạ, bằng cách tự mình mang đến: những ghi chú cho một nền thần học mới]" trong Juan José Pérez-Soba và Eleonora Stefanyan, eds., L'azione, fonte di novità: Teoria dell'azione e compimento della Persona: ermeneutiche a confronto [Hành động, nguồn gốc của sự mới lạ: Lý thuyết về hành động và sự hoàn thiện của Con người: so sánh về phương pháp giải thích] (Siena: Cantagalli, 2010), tr.285-303.

36. Veritatis Splendor 52. Điều này dựa vào tuyên bố sau đây của ĐGH: “huấn điều tiêu cực của luật tự nhiên có giá trị phổ quát. Chúng trói buộc mỗi một và mọi cá nhân, luôn luôn và trong mọi hoàn cảnh. Chính vấn đề ngăn cấm ngăn một hành động nhất định semper et pro semper [luôn luôn và luôn luôn], không có luật trừ, vì việc chọn loại tác phong này, dù trong bất cứ trường gợp nào cũng không tương thích với sự tốt lành của ý chí người hành động, với ơn gọi sống với Thiên Chúa và hiệp thông với người lân cận của họ” (Sđd)

37. Veritatis Splendor 13.

38. Veritatis Splendor 90-94. Muốn có một suy tư về giá trị của nó, xem Joseph Ratzinger, “Canh tân Thần học Luân lý: Các Quan điểm của Vatican II và Veritatis Splendor”, Communio International Catholic Review 32, số 2 (Hè, 2005).

39. Xem Paolo Martinelli, La testimonianza: Verità di Dio e libertà dell’uomo [Chứng từ: Sự thật của Thiên Chúa và Tự do của con người] (Milan: Paoline, 2002).

40. Xem Livio Melina, “’Bene della persona’ e ‘bene per la persona’”, Lateranum 77 (2011): 89-107.

41. Tin mừng Gia đình, tr.49.

42. Muốn có một nghiên cứu tuyệt diệu về khôn ngoan thận trọng, xem Livio Melina, La conoscenza morale: linee di riflessione sul Commento di san Tommaso all’Etica Nicomachea [Tri thức đạo đức: Suy gẫm về Chú giải của Thánh Tôma về Đạo đức Nicomachean], ấn bản 2 (Milan: EDUCatt, 2005)

43. Xem C.A.J. van Ouwerker, Đức ái và Lý trí: Nghiên cứu về nguyên tắc kép của đời sống luân lý Kitô hữu theo Thánh Tôma Aquinô (Nijmegen: Druuerijj Gebr. Jansen, 1956)

44. “Diễn văn của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô trong Buổi Khai mạc Năm Tư pháp của Tòa Roman Rota" 21 tháng Giêng, 2012.

45. Kasper thảo luận đoạn trên trong cuốn Lòng Thương xót: Yếu tính của Tin mừng và Chìa khóa hiểu Đời sống Kitô Kitô hữu, bản tiếng Anh của William Madges (New York/Mawah, NJ. Paulus Press, 2013), tr. 178-79.

46. Xem Tin mừng Gia đình, các tr. 46 và 41, n.21.

47. Được trích dẫn trong Tin mừng Gia đình các tr. 33-34; ngài trích dẫn các nguồn trong các tác phẩm của Thánh Tôma tại các ghi chú 21-23, tr. 41, với việc nhắc đến sự phân biệt của Thánh Tôma giữa lý trí suy lý và lý trí thực hành; một tham chiếu khác ở trang 46.

48. Ibid., các tr. 29, 33.

49. Về Epikeia, xem ibid., các tr. 46, 50, một lần nữa nhắc đến oikonimia.

50. Các trước tác sau đây có thể dùng như tác phẩm tham chiếu: Daniel Westberg, Right Practical Reason: Aristotle, Action and Prudence in Aquinas [Lý trí Thực hành đúng đắn: Aristốt, Hành động, và Khôn ngoan nơi Aquinô] (Oxford: Clarendon Press, 1994). Và José Noriega, “Guiados por el Espíritu”: El Spíritu Santo y el conocimiento moral en Tomás de Aquino [“Được Thánh Linh hướng dẫn”: Chúa Thánh Linh và Kiến thức Đạo đức trong Thánh Tôma Aquinô] (Rome: Mursia, 2000)

51. "Cách tiếp cận này phổ biến đối với các nhà Kinh viện, những người đã phải giải thích nó bằng cách đối lập với Aristốt và tham khảo đến cuộc tranh luận của Abelard; xem John Finnis, Moral Absolutes: Tradition, Revision and Truth [Các Điều Tuyệt đối về Luân lý: Truyền thống, Tái xét và Sự thật (Washington, D.C.: Catholic University of America Press, 1991) Họ đã làm như vậy mà không đánh mất một tầm nhìn dựa trên tình yêu (bất chấp luận án của Keenan), như được chứng minh bởi Micha & Sherwin By Knowledge and by Love: Charity and knowledge in Moral Theology of St. Thomas Aquinas [Bởi Nhận thức và Tình yêu: Đức ái và Nhận thức trong Thần học Luân lý của Thánh Tôma Aquinô] (Washington, Catholic University of America Press, 2004)

52. Xem suy tư sâu sắc của Servais Pinckaers, The Sources of Christian Ethics [Các Nguồn gốc của Đạo đức học Kitô giáo], được phiên dịch từ ấn bản thứ ba bởi Sơ Mary Thomas Noble (Washington, D.C.: Catholic University of America Press, 1995) các tr. 14-17.

53. Đây là trường hợp với Basilio Petrà; xem cuốn Divorziati risposati e seconde nozze nella Chiesa[Ly hôn, tái hôn và hôn nhân lần thứ hai trong Giáo hội], các tr. 191-205 của ông.

54. Xem “Diễn văn của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trước Tòa Roman Rota” ngày 21 tháng Giêng năm 2000, số 8: “việc không nối dài thẩm quyền của Giám mục Rôma vào hôn nhân bí tích đã thành hiệu và hoàn hợp được huấn quyền Giáo hội giảng dậy như một tín lý phải dứt khoát tuân giữ”.

55. Tin mừng Gia đình, tr. 46

56. Bắt đầu với cuốn sách của Wolfgang Kluxen, Philosophische Ethik bei Thomas Von Aquin [Đạo đức triết học nơi Thánh Tôma Aquinô] (Hamburg: F. Meiner, 1980), tiếp theo là Martin Rhonheimer, Natur als Grundlage der Moral [Thiên nhiên là nền tảng của đạo đức] (Innsbruck-Vienna: Tyrolia-Verlag, 1987)› và Eberhard Schockenhoff, Bonum hominis: Die anthropologischen und theologischen Grundlagen der Tugendethik des Thomas von Aquin [Thiện ích của con người: Nền tảng nhân học và thần học của đạo đức đức học Thánh Tôma Aquin] (Mainz: Matthias-Grunewald Verlag, 1987)

57. Tin mừng Gia đình, tr. 6. Trước đó, ngài đã dùng đến một công thức tương tự khi nói rằng, “Đằng sau mỗi đơn kháng cáo pháp lý cá nhân không chỉ là một vụ án có thể được xem xét qua lăng kính của một quy tắc chung, mà là một nhân vị, vốn không chỉ là một vụ án, mà là một hữu thể sở hữu phẩm giá nhân vị độc đáo. Điều đó đòi hỏi một phương pháp diễn giải vừa pháp lý vừa mang tính mục vụ, và được áp dụng một luật chung với sự thận trọng và khôn ngoan, theo công lý và sự công bằng, cho một tình huống cụ thể, thường phức tạp” (ibid., tr. 29, được nhấn mạnh thêm).

58. Xem ibid, tr. 45: “Cũng không có tình huống khách quan gây trở ngại cho việc được nhận vào hiệp thông, mà đúng hơn là nhiều tình huống khách quan rất khác nhau... Vì vậy, người ta không thể xuất phát từ một khái niệm về tình huống khách quan đã được rút gọn thành một điểm duy nhất” (được nhấn mạnh trong bản gốc)

59. So sánh Maurice Nédoncelle, Conscience et logos: Horizons et méthodes d’une philosophie personnaliste [lương tâm và logos: Các Chân trời và Phương pháp của một nền triết lý nhân vị](Paris: Editions de l’Épi, 1961), tr.40: “nhưng con người, mà dưới hình thức này hay hình thức khác, không trải qua trường khách quan, thì không thể chịu đựng được và tởm gớm”. Về sự cần thiết của một trung gian khách quan trong bất cứ tương quan bản vị nào, xem Juan José Pérez-Soba, La pregunta por la persona, la respuesta de la interpersonalidad: Estudio de una categoría personalista [Câu hỏi về con người, câu trả lời của tính liên bản vị: Nghiên cứu về phạm trù nhân vị] (Madrid: Publicaciones de la Facultad de Teologia “San Dámaso”, 2004).

60. Xem Juan Jose Perez-Soba và Pawel Gahiszka, biên tập Persona e natura nell'agire morale: Memoriale de Cracovia – Studi - Contributi [Con người và Thiên nhiên trong Hành động Đạo đức: Tưởng niệm Krakow – Nghiên cứu - Đóng góp] (Siena: Cantagalli,2013)

61. Theo lập luận của Đức Bênêđictô 16: “Yêu ai là mong muốn điều tốt đẹp cho người ấy và thực hiện các bước hữu hiệu để đảm bảo điều đó. Bên cạnh điều tốt đẹp của cá nhân, còn có một điều tốt đẹp gắn liền với việc sống trong xã hội: ích chung” (Thông điệp Caritas in veritate, 29 tháng 6, 2009, số 7).

62.Xem Tin mừng Gia Đình, các tr. 5-7. Theo lập luận của ngài, xem ra nó cần được hiểu theo nghĩa trong đó, nó được sử dụng trong bài diễn văn của ngài: “một dạng ý nghĩa trói buộc” (sđd. tr.10)

63. Ibid., trang 27-28

64. Ibid., trang 52. Do đó, cần phải gán nghĩa chuẩn mực này cho cụm từ sau trong lời tựa cho tập sách nhỏ của mình: “để đi đến một câu trả lời hy vọng là nhất trí” (tr. vi).

65. Walter Kasper, Thần học về Hôn nhân Kitô giáo, David Smith dịch (New York: Seabury Press, 1980), 69

66. Xem Aristide Fumagalli, Azione e tempo: Il dinamismo dell’agire morale [Hành động và Thời gian: Sự năng động của Hành động Đạo đức] (Assisi: Citadella Editrice, 2002).

67. Để đánh giá sự khác nhau giữa quan điểm này và quan điểm luân lý đích thực, xem Martin Rhonheimer, The Perspective of Morality: Philosophical Foundations of Thomistic Virtue Ethics [Viễn ảnh Luân lý: Các Nền tảng Triết học của Đạo đức học Nhân đức của trường phái Tôma], bản dịch của Gerald Malsbary (Washington, D.C.: Catholic University of America Press, 2011).

68. Sau đây là một nguồn của viễn kiến này: Karol Wojtyla, The Acting Person, bản dịch của Andrzej Potocki (Dordrecht and Boston:D. Reidel, 1979). Nghiên cứu về phương thức duy nhân vị của nó có thể được tìm thấy trong Aude Suramy, La Voie de l’amour: Une interprétation de Personne et act de Karol Wojtyla, Lecteur de Thomas d’Aquin [Con đường tình yêu: Một lối giải thích Nhân vị và Hành động của Karol Wojtyla, Người đọc Thánh Tôma Aquinô] (Siena; Cantagalli, 2014).

69. Xem Tin Mừng Gia đình, tr. 46.

70. Xem James F. Keenan và Thomas A. Shannon, biên tập, Bối cảnh của ngụy biện (Washington, D. C.: Nhà xuất bản Đại học Georgetown, 1995).

71. Tin Mừng Gia đình, tr. 50.

72. ST II—II, q.120, a.2: "Unde epieikeia est quasi superior regula humanorum actuum"

73. ST II-II, q.120, a.1: "Non fuit possibile aliquam regulam legis institui quae in nullo casu deficeret, sed legislatores attendunt ad id quod in pluribus accidit... similibus casibus malum esset sequi legem positam"

74. Xem Ángel Rodríguez Luno, "có thể dùng epikeia trong việc chăm sóc mục vụ cho các tín hữu ly dị và tái hôn không? trong L'Osservatore Romano, Ấn bản Hàng tuần bằng tiếng Anh, 9 tháng 2, 2000 tr. 9; Piero Gorgio Marcuzzi, 'Applicazioni di aequitas et epicheia' ai contenuti dela Lettera della congregazione per la Doctrina della Fede del 14 settembre 1994 ['Ứng dụng của aequitas et epicheia' vào nội dung của Thư của Bộ Giáo lý Đức tin ngày 14 tháng 9 năm 1994]" trong Bộ Giáo lý Đức tin, Sulla pastorale dei divorziati risposati [Về việc chăm sóc mục vụ cho những người ly hôn và tái hôn] (Vatican City: Liberia Editrice Vaticana, 1998) các tr. 88-98.

75. ST II-II, q.120, a.1, ad. 2: "non judicat de lege, sed de aliquo particulari negotio"

76. ST II—II, q. 120, a.1, ad 3: “in manifestis non est opus Interprete, sed excutione.”

77. ST II—II, q. 120, a. 2, ad 1: “epieikeia correspondet proprie iustitiae legali.”

78. Xem Louis Vereecke, Da Guglielmo d'Ockham a sant'Alfonso de Liguori: Saggi distoria della teologia morale Moderna 1300-1787 [Từ William xứ Ockham đến Thánh Alphonsô Liguori: Các tiểu luận về Lịch sử Thần học Đạo đức Hiện đại 1300-1787] (Cinisello Balsamo [MI]: Paoline, 1990 ). P. : “Phong trào Jansenist, dưới ảnh hưởng của học thuyết Bayanist, đã phủ nhận khả năng thiếu hiểu biết bất khả chiến bại trong các vấn đề về luật tự nhiên.”

79. Được làm rõ bởi Angel Rodriguez Luño, trong “L'epicheia nella cura pastorale dei fedeli [Epikeia trong việc chăm sóc mục vụ cho các tín hữu]”, Bộ Giáo lý Đức tin, Sully Pastorale dei divorziati risposati [Chăm sóc Mục vụ cho Người ly hôn và tái hôn] (Thành phố Vatican: Libreria Vaticana. 1998), tr. 80

80. ST II II, q.120, a.2, ad. 1: "Si vero iustitia legalis dicatur solum quae obtemperat legi secundum verba legis, sic epieikeia non est pars legalis iustitiae, sed est pars justitiae communiter dictae, contra justitiam legalem divisa sicut exedens ipsam.” (Nhưng nếu công lý pháp lý chỉ biểu thị những gì tuân thủ luật pháp liên quan đến chữ nghĩa, thì epikeia không phải là một phần của công lý pháp lý mà là một phần của công lý trong sự chấp nhận chung của nó, và phù hợp với công lý pháp lý, khi vượt quá nó) ST II-II q.120, a.2, ad 2: "epieikeia est melior quadam justitia, scilicet legali quae observat verba legis. Quia tamen et ipsa est iustitia quaedam, non est melior omni iustitia.” (Epikeia tốt hơn một thứ công lý nào đó, nghĩa là pháp lý, vốn tuân theo từng chữ của luật; tuy nhiên vì bản thân nó là một loại công lý, nó không tốt hơn mọi công lý)

81. Gianflanco Ghirlanda, Il diritto nella Chiesa mistero di communione [Luật trong mầu nhiệm hiệp thông của Giáo Hội] (Cinisello Balsamo (MI]: Paoline, 1993), p.P 448

82. Xem Marcuzzi, "Applicazioni di 'aequitas et epicheia [áp dụng Aequitas et Epikeia]" tr. 96

83. Rodríguez Luño, “L'epicheia nella cura pastorale dei fedeli [Epikeia trong việc chăm sóc mục vụ cho các tín hữu]”, tr. 80–81.

84. Đức Bênêđictô XVI, “Diễn văn trước Tòa Thượng Thẩm Rôma”, ngày 2 tháng 1 năm 2011,.

85. “Diễn văn của ĐGH Phanxicô với các Viên chức của tòa Roman Rota dịp Khai mạc Năm Pháp lý” 24 tháng Giêng, 2014. Được trích dẫn bằng những lời diễn giải trong Tin Mừng Gia đình, các tr.28-29.

86. “Diễn văn của Đức Gioan Phaolô II với tòa Roman Rota” Tháng Giêng 18, 1990, số 4. Như thế ngài soi sáng một “ý niệm sai lầm”: “Có lẽ đây là một ý niệm dễ hiểu, nhưng không vì thế mà kém tai hại, vì điều không may là nó thường điều kiện hóa quan điểm của người ta về bản chất mục vụ của luật Giáo hội. Sự bóp méo này hệ ở chỗ chỉ gán tầm quan trọng và ý hướng mục vụ cho nhữg khía cạnh dung hòa và nhân bản trong luật vốn trực tiếp liên kết với tính công bằng theo giáo luật (aequitas canonica), nghĩa là, chủ trương rằng chỉ những luật trừ đối với luật, việc có tiềm năng không dùng tới các thủ tục và chế tài giáo luật, và sắp xếp hợp lý hóa (steamlining) các phương thức pháp lý vốn có bất cứ tính liên quan mục vụ đích thực nào” (Ibid., số 3)

87.Hội đồng GM Tây Ban Nha, Directorio de la pastoral familar de la Iglesia en Espana [Sách Hướng dẫn Gia đình của Giáo hội Tây Ban Nha] (Alicante: Ediciones Palabra, 2004), số 19

88. Diễn văn của ĐGH Bênêđictô XVI với Các thành viên của Giáo hoàng Học viện Gioan Phaolô II Nghiên cứu về Hôn nhân và Gia đình kỷ niệm năm thứ 25 ngày Thành lập" 11 tháng 5 năm 2006. So sánh Livio Melina, La roccia e la casa: Famiglia, societa et bene comune [Đá tảng và ngôi nhà: Gia đình, xã hội và lợi ích chung] (Cinisello Balsamo: San Paolo, 2013)

89. Pérez-Soba, La pastorale familare [mục vụ gia đình], trang 115.

90. Walter Kasper, Il vangelo della famiglia [Tin mừng Gia đình] (Brescia: Queriniana, 2014) tr. 31. Đoạn này có trong ấn bản tiếng Ý của cuốn sách nhỏ của ĐHY Kasper, từ đó, nó đã được phiên dịch ở đây. Tuy nhiên, nó không có trong ấn bản tiếng Đức mà với nó, bản tiếng Anh xem ra đã dựa vào. So sánh Tin mừng Gia đình, tr.18: “Hôn nhân và gia đình, trên đường thập giá và phục sinh (Familiaris Consortio 12 tt) nằm dưới luật phát triển tiệm tiến- lớn lên trong mầu nhiệm Chúa Kitô một cách liên tiếp mới mẻ và sâu sắc hơn ((Familiaris Consortio 9, 34)” Để hiểu sự phân biệt này, xem Livio Melina, “Pedagogia moral cristiana: conversio y ‘ley de la gradualidad’[Sư phạm luân lý Kitô giáo: hoán cải và luật tiệm tiến]” trong Moral: entre la crisis y la renovacion [Luân lý: giữa khủng hoảng và canh tân], ấn bản thứ hai (Madrid: EIUNSA, 1998) các tr. 105-36.

91. Tin Mừng Gia đình, trang 32—33.

92. “Diễn văn của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI trước những người tham dự Hội nghị Quốc tế do Viện Nghiên cứu Hôn nhân và Gia đình Gioan Phaolô II tổ chức,” ngày 5 tháng 4 năm 2008.

93. Xem Livio Melina và C.A. Anderson, biên tập, L'olio sulle ferite: Una risposta alle piaghe dell'aborto e del divorzio [Dầu trên vết thương: Phản ứng trước những vết thương do phá thai và ly hôn] (Siena: Cantagalli, 2009).

94. Nền tảng đã được đặt ra và con đường sám hối được mô tả trong Tin mừng Gia đình, trang 30-32

95. xem các tiểu luận rất có cơ sở được thu thập trong Paolo Gentili, Tommaso Cioncolini, và Giulia Cioncolini, biên tập, Văn phòng Quốc gia Hội đồng Giám mục Ý về Chăm sóc Mục vụ Gia đình, Luci di speranza per famiglia ferita: Persone separate e divorziati risposati nella communita cristiana [Ánh sáng hy vọng cho các gia đình bị tổn thương: Những người ly thân và ly hôn tái hôn trong cộng đồng Kitô giáo] (Sienna: Cantagalli, 2012).

96. Các bước đáng lưu ý được Xavier Lacroix đề nghị trong "Face au divorce" Oser dire le mariage indissoluble [Đối diện với ly hôn” dám nói hôn nhân bất khả phân ly](Paris: Cerf, 2001), các tr. 229-30

Những khoảnh khắc chính có thể là:

—thừa nhận đã vi phạm một điều răn quan trọng của Chúa;
—thừa nhận sự thiếu chung thủy với sự hiệp nhất được ngụ ý trong bí tích hôn nhân;
-thừa nhận những sai trái đã làm và những tội lỗi đã phạm, đặc biệt đối với người phối ngẫu và con cái của cuộc hôn nhân đầu tiên, kèm theo việc đền bù khi có thể;
-những lời hòa giải và tha thứ được trao cho người phối ngẫu đầu tiên;
—thừa nhận sự bền vững huyền nhiệm của mối dây ràng buộc đầu tiên;
-quyết tâm sống trọn mối dây ràng buộc hiện tại trong khi lắng nghe Tin mừng

97. Một điểm được Giuseppe Angelini nhấn mạnh, trong Educate si deve ma si può? [Bạn phải giáo dục, nhưng bạn có thể] (Milan: Vita e Pensiero, zooz).

98. Đức Gioan Phaolô II, Vượt qua Ngưỡng cửa Hy vọng (New York: Alfred A.Knopf 1994). trang 122-23. Xem thêm Livio Melina và Stanislaw Grygiel, eds., l'amare umano: L'eredítà di Giovani Paolo II sul em Matrimonio e la Famiglia [Tình yêu con người: Di sản của Đức Gioan Phaolô II về Hôn nhân và Gia đình] (Siena: Cantagalli, 2007).

99. Xem Familiaris Consortio 66.

100. Xem Ramón Acosta Peso, La luz que guia toda la vida: La vocacion al amor, hilo conductor de la pastoral familiar [Ánh sáng soi đường cho mọi sự sống: Ơn gọi yêu thương, người lãnh đạo mục vụ gia đình] (Madrid: Edice, O7)

101. Xem Tin mừng Gia đình, trang 27—28.

102. Xem “Diễn văn của Đức Bênêđíctô XVI nhân lễ khai mạc Năm Tư pháp của Tòa Rota Rôma”, ngày 26 tháng 1 năm 2013.

103. Những điều sau đây rất được khuyến khích như một sự phản ảnh toàn diện về chủ đề: Livio Melina, ed., I primi anni di matrimonio: La sfida pastorale di un Periodo bello e difficile [Những năm đầu của hôn nhân: Thách thức mục vụ trong thời kỳ tươi đẹp và khó khăn] (Siena: Cantagalli, 2014).

104. Có một nghiên cứu về chủ đề này trong Juan José Pérez-Soba, Creer en el amor: Un modo de conocimien to teologico [Tin vào tình yêu: Một phương thức nhận thức thần học](Madrid: BAC, 2014)

105. Lumen Fidei 53. Đây là kết luận của bài suy tư về giá trị của công ích đức tin, chính là phần có đề cập đến gia đình.

106. Xem Juan José Pérez-Soba, “La pastoral familiar, una llamada a toda la Iglesia [Mục vụ Gia đình, lời kêu gọi toàn thể Giáo hội]”, Familia et vita 19, số 1 (2014). Có thể tìm thấy sự phát triển đầy đủ hơn về chủ đề này trong Pastorale familiare [Mục vụ Gia đình], trang 151-191.

107. Xem Juan José Pérez-Soba, biên tập, "Saper portare il vino migliore": Strade di pastorale Familiare [Biết cách mang đến loại rượu ngon nhất": Con đường chăm sóc mục vụ gia đình] (Siena: Cantagalli, 2014)

108. Thánh Tôma Aquinô, In Joannem, chương 2, bài giảng 1, số 345: "Quia ergo virgo beata misericordia plena erat, defectus aliorum sublevare volebat." Kasper nhắc đến đoạn văn này trong sách Lòng Thương Xót, trang 23.