Chính nhờ đi theo Chúa Giêsu mà chúng ta tìm thấy sự tự do thật.

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý thứ 33 về cầu nguyện của ĐTC Bênêđictô XVI ban hành trong buổi triều yết chung ngày Thứ Tư mùng 9 tháng 5 năm 2012 tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Tiếp tục loạt bài giáo lý về cầu nguyện trong Sách Tông Đồ Công Vụ, lần này ĐTC bàn về việc Hội Thánh cầu nguyện cho Thánh Phêrô khi ngài bị Hêrôđê bắt giam và Thiên Chúa đã nhận lời họ bằng cách sai thiên sứ đến giải thoát ngài thế nào.

* * *


Anh chị em thân mến,

Hôm nay tôi muốn bàn về cảnh cuối cùng của cuộc đời Thánh Phêrô được kể trong sách Tông Đồ Công Vụ: việc giam cầm của ngài theo lệnh của Hêrôđê Agrippa và việc giải thoát của ngài qua sự can thiệp kỳ diệu của sứ thần của Chúa, trong đêm trước cuộc xử án ngài ở Giêrusalem (x. Cv 12,1-17).

Một lần nữa, tường thuật được đánh dấu bằng việc cầu nguyện của Hội Thánh. Thực ra, Thánh Luca đã viết: "Trong khi ông Phêrô bị giam trong tù, thì Hội Thánh không ngừng thiết tha cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho ông" (Cv 12:5). Và sau khi được dẫn ra khỏi nhà tù một cách kỳ diệu, dịp ngài đến thăm nhà bà Maria, mẹ của Gioan Marcô, Thánh Luca quả quyết rằng "nhiều người đang tụ họp cầu nguyện" (Cv 12:12). Việc Thánh Phêrô bị giam cầm và được giải thoát, là việc kéo dài suốt đêm, được đặt giữa hai chú thích quan trọng này, cho thấy thái độ của cộng đồng Kitô hữu khi phải đối diện với nguy hiểm và bắt bớ. Sức mạnh của việc cầu nguyện không ngừng của Hội Thánh lên đến Thiên Chúa và Chúa nghe cùng thực hiện một cuộc giải thoát bất ngờ và không thể tưởng tượng nổi, bằng cách gửi thiên sứ của Ngài.

Câu chuyện nhắc lại các yếu tố chính của việc giải phóng dân Israel khỏi ách nô lệ Ai Cập, Lễ Vượt Qua của người Do Thái. Vì nó đã xảy ra trong biến cố cơ bản này, ở đây cũng là hành động chính được thực hiện bởi thiên sứ của Chúa, là vị đã giải thoát Thánh Phêrô. Và chính các hành động của vị Tông Đồ, người được yêu cầu vội vã đứng lên, cột giây đai và thắt lưng, phản ảnh hành động của dân được tuyển chọn, trong đêm được giải thoát nhờ sự can thiệp của Thiên Chúa khi họ được mời vội vàng ăn thị chiên, cột giây thắt lưng, chân đi giày, tay cầm gậy, sẵn sàng rời khỏi nước [Ai Cập] (x. Xh 12:11). Như vậy, Thánh Phêrô có thể kêu lên: "Giờ đây tôi biết chắc chắn rằng Chúa đã sai thiên sứ của Người đến và đã cứu tôi thoát khỏi tay Hêrôđê" (Cv 12:11). Nhưng thiên sứ không những chỉ nhắc lại việc giải phóng dân Israel khỏi Ai Cập, mà còn sự Phục Sinh của Đức Kitô. Thực vậy, sách Tông Đồ Công Vụ cho chúng ta biết: "Kìa thiên sứ của Chúa đứng bên cạnh ông, và một ánh sáng chiếu soi căn phòng, ngài đập vào cạnh sườn ông Phêrô, đánh thức ông dậy" (Cv 12:7). Ánh sáng chiếu đầy phòng giam, chính hành động đánh thức vị Tông Đồ, nhắc lại ánh sáng giải phóng của Lễ Vượt Qua của Chúa, là ánh sáng xua tan bóng tối của đêm đen và sự dữ. Sau cùng, lời mời gọi: “Khoác áo vào và theo tôi!” (Cv 12:8), vang lên trong tâm hồn chúng ta lời mời gọi ban đầu của Chúa Giêsu (x. Mc 1:17), được lặp lại sau khi Phục Sinh ở Hồ Tiberia, nơi Chúa hai lần nói với Thánh Phêrô, "Hãy theo Thầy" (Ga 21:19-22). Đây là một lời mời gọi khẩn trương để “đi theo”: vì chỉ nhờ thoát ra khỏi chính mình để bắt đầu cuộc hành trình với Chúa và làm theo Thánh Ý Người, mà chúng ta bước vào sự tự do thật.

Tôi muốn nhấn mạnh đến một khía cạnh khác của thái độ của Thánh Phêrô trong tù. Thực ra, trong khi cộng đồng Kitô hữu kiên trì cầu nguyện cho ngài thì Thánh Phêrô lại "đang ngủ" (Cv 12:6). Trong hoàn cảnh nguy hiểm cấp thời và nghiêm trọng như vậy, đó là một thái độ có vẻ kỳ cục, nhưng thực ra thái độ này chứng tỏ sự an lòng, tin tưởng và tín thác vào Thiên Chúa, ngài biết mình được bao bọc bởi tình đoàn kết và cầu nguyện của dân chúng và ngài hoàn toàn phó thác trong tay Chúa. Như vậy, lời cầu nguyện của chúng ta phải chuyên cần, trong tình liên đới với những người khác, hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng biết chúng ta một cách mật thiết và chăm sóc cho chúng ta đến nỗi, như Chúa Giêsu nói, "dù các sợi tóc trên đầu các con cũng được đếm cả! Cho nên đừng sợ ..." (Mt 10:30-31). Thánh Phêrô coi đêm bị giam cầm và được giải thoát khỏi nhà tù của ngài như giây phút riêng để “đi theo” Chúa, là Đấng đã xua tan bóng tối của đêm đen cùng tháo tung xiềng xích nô lệ và nguy hiểm của sự chết. Đây là một cuộc giải thoát phi thường, được kể lại bằng một vài đoạn diễn tả một cách chính xác: được thiên sứ hướng dẫn, bất chấp sự canh gác của các vệ binh, đi qua trạm canh thứ nhất, và trạm canh thứ hai, thì họ đến trước cửa sắt dẫn ra phố: và cửa tự động mở ra trước mặt họ (x. Cv 12:10). Thánh Phêrô và thiên sứ của Chúa cùng nhau đi một đoạn đường dài, đến khi hoàn hồn, vị Tông Đồ mới nhận ra rằng Chúa thực sự đã giải thoát ngài, và sau một hồi suy nghĩ, ngài đi đến nhà bà Maria, mẹ của Marcô, là nơi nhiều môn đệ tụ họp cầu nguyện; một lần nữa, phản ứng của cộng đồng khi gặp khó khăn và nguy hiểm là phó thác vào Thiên Chúa, làm cho mối liên hệ của mình với Ngài thêm mãnh liệt.

Ỡ đây tôi thấy có vẻ hữu ích để nhắc lại một hoàn cảnh khó khăn khác mà cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đã trải qua. Thánh Giacôbê cho chúng ta biết trong thư của ngài. Đây là một cộng đoàn đang bị khủng hoảng, khó khăn, không phải vì bị bắt bớ nhưng vì có sự ghen tương và tranh chấp nội bộ (x. Gc 3,14-16). Và Thánh Tông Đồ thắc mắc tại sao có tình trạng này. Ngái tìm thấy hai lý do chính: thứ nhất là người ta để cho mình bị thống trị bởi những đam mê, bởi sự độc tài của ý muốn của họ, và bởi ích kỷ (x. Gc 4.1-2a), thứ nhì là thiếu cầu nguyện - "anh em không xin" (Gc 4:2b) - hoặc sự hiện diện của một lời cầu nguyện mà không thể định nghĩa được như là - "Anh em xin mà không nhận được, vì anh em xin điều sai quấy, để anh em hoang phí trong những đam mê của anh em.” (Gc 4:3). Theo Thánh Giacôbê thì tình trạng này sẽ thay đổi nếu toàn thể cộng đoàn đồng lòng khi thưa chuyện với Thiên Chúa, nếu họ cầu nguyện chăm chỉ và đồng tâm. Thực ra, ngay cả những thảo luận về Thiên Chúa cũng có thể mất đi sức mạnh bên trong của nó, và việc làm nhân chứng cũng trở thành khô héo, nếu không được linh hoạt, nâng đỡ và đi kèm bởi cầu nguyện, bởi một cuộc đối thoại sống động liên tục với Chúa. Đây là một nhắc nhở quan trọng đối với chúng ta và cộng đoàn của chúng ta, dù nhỏ như gia đình, hoặc lớn hơn, như giáo xứ, giáo phận, và toàn thể Hội Thánh. Điều này làm cho tôi nghĩ rằng trong cộng đoàn của Thánh Giacôbê này, họ đã cầu nguyện, nhưng cầu nguyện sai, vì họ đã chỉ cầu xin cho những ham muốn của họ. Chúng ta phải không ngừng học phải cầu nguyện thế nào, cầu nguyện thực sự, để hướng chúng ta về Thiên Chúa mà không hướng về những gì có lợi cho mình.

Trái lại, cộng đoàn đồng hành với Thánh Phêrô khi ngài ở trong tù thật sự là một cộng đoàn hợp nhất cầu nguyện suốt đêm. Và một niềm vui không gì có thể ngăn cản nổi đã tràn ngập tâm hồn tất cả mọi người khi vị Tông Đồ bất ngờ gõ cửa. Đó là niềm vui và sự kinh ngạc trước hành động của Thiên Chúa là Đấng nghe họ. Như vậy, lời cầu nguyện cho Thánh Phêrô dâng lên từ Hội Thánh và ngài trở về trong Hội Thánh để kể lại việc "Chúa đã dẫn ngài ra khỏi nhà tù thế nào" (Cv 12:17). Trong Hội Thánh này, nơi mà ngài được đặt như một đá tảng (x. Mt 16:18), Thánh Phêrô kể lại việc giải thoát trong “Lễ Phục Sinh” của ngài: ngài cảm nghiệm được rằng chính vì đi theo Chúa Giêsu mà chúng ta tìm thấy tự do thật, chúng ta được bao bọc bởi ánh sáng Phục Sinh, và chính nhờ điều này mà chúng ta có thể làm nhân chứng, đến nỗi tử vì đạo, rằng Chúa là Đấng Phục Sinh, cùng thực sự “đã sai thiên sứ của Người và cứu thoát tôi khỏi tay Hêrôđê" (Cv 12:11). Việc tử vì đạo mà sau đó Thánh Phêrô chịu ở Roma sẽ kết hợp ngài cách vĩnh viễn với Đức Kitô, Đấng đã nói với ngài: khi con về già, một người nào khác sẽ dẫn con đến nơi mà con không muốn, để ám chỉ ngài phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa (x. Ga 21:18-19).

Anh chị em thân mến, câu chuyện về việc giải thoát của Thánh Phêrô, mà Thánh Luca kể lại, cho chúng ta biết rằng Hội Thánh, mỗi người chúng ta, phải trải qua đêm đen thử thách, nhưng việc cảnh giác cầu nguyện không ngừng sẽ nâng đỡ chúng ta. Tôi cũng thế, từ giây phút đầu tiên được chọn làm người kế vị Thánh Phêrô, tôi luôn luôn cảm thấy được nâng đỡ bởi lời cầu nguyện của anh chị em, lời cầu nguyện của Hội Thánh, đặc biệt là trong những lúc cực kỳ khó khăn. Tôi hết lòng cảm ơn anh chị em. Nhờ cầu nguyện liên tục và tin tưởng, Chúa giải thoát chúng ta khỏi xiềng xích, hướng dẫn chúng ta qua mỗi đêm bị giam cầm, là đêm có thể làm hao mòn tâm hồn chúng ta, cho chúng ta bình an trong tâm hồn để đối diện với những khó khăn của cuộc sống, ngay cả việc bị chối từ, chống đối và bách hại. Câu chuyện của Thánh Phêrô cho thấy sức mạnh của cầu nguyện. Thánh Tông Đồ, mặc dù bị xiềng xích vẫn cảm thấy an tâm tin tưởng vào niềm xác tín rằng ngài không bao giờ cô đơn: cộng đoàn đang cầu nguyện cho ngài, Chúa đang ở gần ngài; hay đúng hơn ngài biết rằng "quyền năng của [Đức Kitô] được nên trọn vẹn trong sự yếu đuối" (2 Cor 12,9). Đồng tâm cầu nguyện liên tục là một công cụ quý giá để khắc phục những thử thách có thể phát sinh trên đường đời, bởi vì chính việc kết hợp cách mật thiết với Thiên Chúa cũng cho phép chúng ta được kết hợp mật thiết với tha nhân. Cảm ơn anh chị em.