Ngày 22-10-2026
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Ngày 23/10: Dấu chỉ tâm linh - Lm Giuse Đỗ Tuấn Anh CSSR
Giáo Hội Năm Châu
01:22 22/10/2026

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

Khi ấy, Đức Giê-su nói với đám đông rằng: “Khi các người thấy mây kéo lên ở phía tây, các người nói ngay: ‘Mưa đến nơi rồi’, và xảy ra đúng như vậy. Khi thấy gió nồm thổi, các người nói: ‘Trời sẽ oi bức’, và xảy ra đúng như vậy. Những kẻ đạo đức giả kia, cảnh sắc đất trời, thì các người biết nhận xét, còn thời đại này, sao các người lại không biết nhận xét?

“Sao các người không tự mình xét xem cái gì là phải? Thật vậy, khi anh đi cùng đối phương ra toà, thì dọc đường hãy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong, kẻo người ấy lôi anh đến quan toà, quan toà lại nộp anh cho thừa phát lại, và thừa phát lại tống anh vào ngục. Tôi bảo cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng kẽm cuối cùng.”
 
YÊU ĐẾN CHIA LÌA
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
05:43 22/10/2026


Lời Chúa Thứ Năm Tuần XXIX Thường Niên, Năm Chẵn:

“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”.

“Lửa phán xét của Thiên Chúa không đối nghịch với tình yêu Ngài; đúng hơn, đó là hình dạng tình yêu Thiên Chúa khi gặp một thế giới sa ngã!” - Robert Barron.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy tình yêu của Thiên Chúa có dáng dấp một ngọn lửa. Tình yêu Ngài có thể làm những người cật ruột nhất xa nhau - ‘yêu đến chia lìa’.

Chúa Giêsu không ném lửa xuống đất để người ta ngồi quanh cho ấm; lửa Ngài làm xáo trộn, soi rõ những điều người ta muốn giấu. Người quen bóng tối khó chịu trước ánh sáng; người quen làm sai bất an trước sự thật. Vì thế, Ngài nói đến chia rẽ ngay giữa những người chung một mái nhà. Thiên Chúa không muốn chia lìa ai, nhưng trước tình yêu Ngài, mỗi người phải chọn cho mình một lối sống. Người chọn, kẻ không! Có những gia đình, cộng đoàn vẫn êm ấm chỉ vì chưa ai dám nói thật. “Nhưng nếu vì sợ hãi, bạn chỉ tìm nơi tình yêu sự bình yên và niềm vui, thì tốt hơn bạn nên rời khỏi sân đập lúa của tình yêu!” - Kahlil Gibran.

Giữa thói quanh co, người ngay thẳng đôi khi thành kẻ gây rối. Chẳng phải họ hết thương người khác, nhưng có những điều sai trái vẫn được dung túng vì người ta cùng làm ngơ. Chúa Giêsu không cho phép chúng ta làm ngơ trước điều sai, nhưng cũng không dạy tìm sự chống đối, càng không khuyến khích lấy đức tin làm cớ gây bất hoà; nhưng Ngài cũng không muốn chúng ta mua lấy sự bình an bằng cách phớt lờ lương tâm. Có khi cái giá của việc sống thật là mất đi sự đồng tình của chính những người mình thương yêu nhất.

Vì thế, Phaolô cầu xin cho mỗi người được bén rễ sâu trong đức ái, hiểu tình thương Đức Kitô rộng dài cao sâu đến mức nào, “để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng” - bài đọc một. “Tình thương Chúa chan hoà mặt đất!” - Thánh Vịnh đáp ca. Tình thương ấy đủ lớn để đón nhận mọi người, nhưng không vì thế mà gọi điều sai là đúng. Được Chúa yêu không có nghĩa là được Ngài miễn cho việc thanh luyện.

Có khi chúng ta biết một người thân đang sai đường, nhưng ngại lên tiếng vì sợ mất lòng. Hoặc chính chúng ta cần được nhắc nhở, lại trách người góp ý là thiếu yêu thương. Một cộng đoàn có thể bất hoà vì những lời nói thật thiếu bác ái; nhưng cũng có thể mục ruỗng vì những điều sai chẳng ai dám nói. Khó nhất vẫn là nói thật mà không hết thương nhau. “Sự thật tách khỏi đức ái không phải là Thiên Chúa!” - Blaise Pascal.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã trả giá cho tình yêu ấy: nói thật mà không bỏ rơi ai; yêu đến cùng mà không thoả hiệp với sự dữ. Những người Ngài đến cứu độ đã đưa Ngài lên thập giá; nhưng ngay giữa những lời kết án, Ngài vẫn xin Cha tha cho họ. Đấng chịu người đời khước từ đã không khước từ con người. Trên núi Sọ, tình yêu đi qua vực chia lìa, mở đường cho hiệp nhất. Đó là một tình yêu chấp nhận mất tất cả, nhưng không chấp nhận mất một con người - ‘yêu đến chia lìa’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đốt cháy nơi con những thoả hiệp ngầm; thanh luyện cả điều con tưởng đúng; dạy con yêu hết lòng, cả khi người con thương quay lưng!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Văn kiện mới từ Vatican xem xét những khó khăn trong việc truyền đạt đức tin ngày nay
Vũ Văn An
16:28 22/10/2026

Tài liệu này được trình bày như một tập hợp các “suy tư”, dựa trên ý kiến đóng góp từ nhiều hội đồng giám mục quốc gia.

Một đứa trẻ được bế lên để Đức Giáo Hoàng Lêô XIV ban phước khi ngi đi ngang qua trên popemobile trong buổi tiếp kiến chung tại Quảng trường Thánh Phêrô vào ngày 21 tháng 10 năm 2026. | Ảnh: Daniel Ibáñez/EWTN News


Marco Mancini của hãng tin EWTN News, ngày 22 tháng 10 năm 2026, loan tin: Vào thứ Năm, Bộ Giáo lý Đức tin của Vatican đã công bố tài liệu có tựa đề “Hãy đến với Tôi: Những suy tư về việc truyền đạt đức tin trong một thời đại đầy biến động”. Đây được cho là tài liệu cuối cùng mà Đức cố Giáo hoàng Phanxicô đã ủy thác cho Bộ này thực hiện.

Văn bản này, được Đức Giáo Hoàng Lêô XIV phê chuẩn vào ngày 21 tháng 8, bao gồm tám chương và 144 đoạn, với chữ ký của Đức Hồng Y Victor Manuel Fernández, Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin.

Tài liệu này được trình bày dưới dạng các “suy tư” — dựa trên ý kiến đóng góp từ nhiều hội đồng giám mục quốc gia — thay vì là một “ghi chú giáo lý” chính thức.

Tài liệu nêu rõ rằng ngày nay, việc chia sẻ đức tin gặp phải vô vàn khó khăn, trong đó có sự lan rộng của chủ nghĩa thế tục và chủ nghĩa cá nhân.

Tài liệu viết: “Cần phải thừa nhận rằng, điều đang rơi vào khủng hoảng không chỉ là việc truyền đạt đức tin, mà còn là một quan niệm nhất định về con người và các giá trị nền tảng của họ — một quan niệm vốn đã tìm thấy sự viên mãn trọn vẹn trong Tin Mừng”. “Cuộc khủng hoảng của thời hiện đại — vốn là dấu hiệu đặc trưng cho sự thay đổi mang tính thời đại này — đã góp phần làm nảy sinh một nền văn hóa mới; nền văn hóa này đang cạnh tranh với các cấu trúc truyền thống vốn là phương tiện để đức tin được truyền lại.”

Gặp gỡ Chúa Giêsu

Văn kiện nêu rõ rằng “trọng tâm của trải nghiệm Kitô giáo” chính là “cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu; cuộc gặp gỡ này đưa chúng ta đến với ánh sáng đích thực của tình yêu Thiên Chúa, giúp chúng ta không bị lạc lối trong bóng tối, và dẫn đưa chúng ta đến với sự sống. Chính theo nghĩa này, chúng ta có thể nói đến ‘ánh sáng của đức tin’.”

Văn kiện cũng khẳng định: “Việc truyền đạt đức tin có nền tảng tối hậu nằm ở sáng kiến của Thiên Chúa. Trong Đức Kitô, Người đã mặc khải dung nhan của chính mình và trao phó cho các Tông đồ sứ vụ loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Tuy nhiên, sứ vụ này không kết thúc với thời các Tông đồ, mà vẫn tiếp diễn xuyên suốt lịch sử thông qua Giáo hội.”

Văn kiện còn nhắc lại lời của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI. Trong một bài giảng năm 2007, ngài tái khẳng định rằng “sức mạnh đích thực nhất trong sứ vụ loan báo Tin Mừng của cộng đoàn các môn đệ Chúa chính là sức thu hút.”

Vai trò của gia đình và cộng đoàn Giáo hội

Trong tiến trình truyền đạt đức tin, gia đình đóng vai trò trọng tâm, là “nơi đầu tiên và thiết yếu nhất để truyền đạt đức tin.” Văn kiện cho biết, gia đình chính là “môi trường căn bản, nơi đức tin được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.”

Từ gia đình, đức tin tiếp tục được nuôi dưỡng trong cộng đoàn Giáo hội: “Những gì một người đón nhận từ cha mẹ mình — cụ thể là chứng tá về đức tin nơi Chúa Giêsu, Đấng đã mặc khải trọn vẹn dung nhan tình yêu vô biên của Thiên Chúa, giải thoát con người khỏi bóng tối và mở lối cho họ bước vào ánh sáng đích thực của sự sống — sẽ tìm thấy nơi Giáo hội những phương thế và cơ hội để trở thành kim chỉ nam, định hình cách nhìn của người đó về thế giới.” Tài liệu viết thêm: “Thông qua việc giáo lý, cử hành các bí tích, các không gian đa dạng thúc đẩy sự tham gia tích cực vào đời sống cộng đoàn (như được đề xuất trong tiến trình hiệp hành hiện nay), sự dấn thân vì những người thiệt thòi nhất, và việc quy tụ trong nhà Chúa vào các Chúa nhật, người tín hữu đạt đến sự trưởng thành trong đức tin—một sự trưởng thành mà xét cho cùng chính là khả năng nhìn nhận mọi sự ‘qua đôi mắt của Chúa Giêsu’.”

Trong thời đại chúng ta, vẫn có những người hoán cải hoặc quay trở lại thực hành đức tin Công Giáo; tuy nhiên, tài liệu cũng lưu ý rằng “có một khó khăn song hành liên quan đến sự kiên trì của các tân tòng [những người mới gia nhập Công Giáo]—những người mà thường chỉ một thời gian ngắn sau khi lãnh nhận bí tích Rửa tội đã rơi trở lại trạng thái thờ ơ trong thực tế”. Do đó, cơ quan này cảnh báo rằng cần phải tái khám phá “tầm quan trọng của cộng đoàn trong việc đón nhận và đồng hành cùng các tín hữu mới”.

Các kỹ thuật mới và ý thức hệ

Khi đề cập đến các công nghệ kỹ thuật số mới và trí tuệ nhân tạo, tài liệu cho biết: “Lời mời gọi đến với đức tin có nguy cơ trở nên phi thực tế, tách rời khỏi cuộc sống cụ thể, hoặc bị gắn kết với các ý thức hệ do những nhóm thiểu số có tiếng nói mạnh mẽ thúc đẩy. Điều này có thể dẫn đến những sự bóp méo chính đức tin hoặc lương tâm, hay khiến con người tự xây dựng một kiểu đức tin ‘tự chế’—được định hình bởi thị hiếu và sở thích cá nhân thay vì dựa trên giáo huấn của Giáo hội”.

Đồng thời, tình trạng này cũng mở ra những chân trời mới cho công cuộc loan báo Tin Mừng; đồng thời, Bộ này khẳng định nhu cầu thiết yếu là “truyền đạt đức tin, bắt đầu từ ‘kerygma’ (lời rao báo nền tảng về Tin Mừng).”

Văn kiện viết tiếp: “Việc các tín hữu bước vào một giai đoạn mới trong công cuộc loan báo Tin Mừng là điều hoàn toàn tự nhiên.” Vì lý do đó, “các cộng đoàn Kitô hữu được kêu gọi mạnh mẽ để thúc đẩy — dù thuận tiện hay không thuận tiện — việc đổi mới công cuộc rao báo ‘kerygma’.”

Phụng vụ

Trong văn kiện, phụng vụ được đặc biệt coi trọng đối với việc truyền đạt đức tin: “Nếu trọng tâm của lời rao báo Kitô giáo là cuộc gặp gỡ với tình yêu cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Kitô, thì phụng vụ chính là không gian ưu việt, nơi mầu nhiệm này được cử hành và thông truyền qua các bí tích. Vì vậy, phụng vụ đóng vai trò trung tâm trong việc truyền thụ đức tin, như nhịp đập của đời sống Giáo hội — nơi cộng đoàn được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và Bánh hằng sống.”

Văn kiện nhấn mạnh thêm: “Về phương diện này, chúng ta cần vượt qua cái nhìn hạn hẹp coi phụng vụ chỉ đơn thuần là khuôn khổ nghi thức cho đời sống Giáo hội. Thực tế, phụng vụ trước hết và trên hết là một trải nghiệm đức tin — còn hơn cả một bài giáo lý — bởi nó cho phép các tín hữu tham dự vào những cử chỉ, lời nói, khoảng lặng và biểu tượng, từ đó cảm nghiệm mầu nhiệm Đức Kitô một cách sống động.”

Văn kiện cũng lưu ý rằng cần đặc biệt quan tâm để tại mỗi giáo phận, cả các tín hữu lẫn những người đang tìm hiểu hoặc quay trở lại với cộng đoàn đức tin đều có thể tiếp cận được các sắc thái phụng vụ đa dạng trong truyền thống của Giáo Hội Công Giáo.

Trong khi vẫn tôn trọng các quy định phụng vụ hiện hành, các mục tử được mời gọi trân trọng sự phong phú của di sản phụng vụ Công Giáo, sao cho có thể đáp ứng được những cảm thức đa dạng của đoàn chiên. Văn kiện khẳng định: “Cộng đoàn Kitô hữu lớn lên và được xây dựng thông qua các thực hành nghi thức; xét về khía cạnh này, di sản tâm linh phong phú của Giáo hội chính là một nguồn tài nguyên quý giá và vô tận.”

Hội nhập văn hóa

Cuối cùng, văn kiện dành một phần đề cập đến vấn đề hội nhập văn hóa. Văn bản này lưu ý rằng “việc hội nhập đức tin vào văn hóa là một bước cần thiết trong tiến trình truyền bá đức tin, bởi lẽ thông điệp Tin Mừng phải được trình bày sao cho dễ hiểu đối với những người có các giá trị và phạm trù tư duy không hoàn toàn trùng khớp với hệ thống Hy Lạp - Sêmit – vốn là bối cảnh văn hóa nơi văn bản Kinh Thánh được nguyên thủy hình thành.”

Văn bản cũng khẳng định: “Khi đức tin chạm đến được những cội rễ và biểu hiện văn hóa của một dân tộc, thì việc truyền bá đức tin ấy sẽ trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn nhiều.”
 
Văn Hóa
Lược Sử Giáo Hội Công Giáo, Chương 18: Giáo hội Thất bại trong việc Tự Cải cách Kịp thời
Vũ Văn An
07:03 22/10/2026

Chương 18: GIÁO HỘI THẤT BẠI TRONG VIỆC TỰ CẢI CÁCH KỊP THỜI

Vào mùa hè năm 1454, một trong những người am hiểu nhất châu Âu, Aeneas Sylvius Piccolomini (sau này là Giáo hoàng Pi-ô II), đang đi du lịch ở Đức với tư cách là đặc sứ của Giáo hoàng một năm sau khi Cons-tan-ti-nốp thất thủ trước người Ottoman. Trong một bức thư dài, ngài đã mô tả nỗi lo lắng của mình về tương lai của thế giới Kitô giáo La-tinh:

Tôi thà im lặng và tôi ước rằng ý kiến của tôi có thể hoàn toàn sai lầm và tôi có thể bị gọi là kẻ nói dối hơn là một tiên tri đích thực… Vì tôi không có hy vọng rằng những gì tôi muốn thấy sẽ được thực hiện; tôi không thể tự thuyết phục mình rằng có bất cứ điều gì tốt đẹp trong viễn cảnh...Kitô giáo không có người đứng đầu được tất cả mọi người vâng phục. Cả giáo hoàng lẫn hoàng đế đều không được hưởng quyền lợi của mình. Không có sự tôn kính và không có sự vâng phục; chúng ta coi giáo hoàng và hoàng đế như những người đứng đầu tượng trưng và những tước hiệu vô nghĩa. Mỗi thị quốc đều có vua của mình và có nhiều ông hoàng như có nhiều hộ gia đình.(64)

Quả thực, người ta có thể vẽ nên một bức tranh bi quan về cộng đồng Kitô giáo châu Âu vào thời điểm đó. Cuộc Đại Ly giáo đã là chuyện quá khứ, nhưng ảnh hưởng tinh thần của nó vẫn còn phổ biến. Phong trào công đồng đã bị dập tắt, nhưng quyền lực của Giáo hoàng không dễ dàng phục hồi sau bốn mươi năm tai họa khi các Kitô hữu chứng kiến ba người đội vương miện Giáo hoàng nguyền rủa lẫn nhau.

Đức Pi-ô II đến Ancona và kêu gọi cuộc Thập tự chinh, Cảnh trong cuộc đời của Aeneas Sylv ius Piccolomini. Bernardino Pinturicchio (1454–1513). Liberia Piccolomini, Duomo, Siena, Ý. © Scala/Art Resource, New York.


Nhưng không chỉ Giáo hoàng gặp rắc rối; tình trạng của Giáo hội Kitô giáo nói chung cũng gây ra lo ngại. Ở mọi bình diện trong đời sống Giáo hội đều có những dấu hiệu của sự rối loạn và suy thoái nghiêm trọng.

Chúng ta hãy bắt đầu từ đỉnh của kim tự tháp, với Giáo triều Rô-ma. Các nhà cải cách ở Basel đã lên án nó như là vụ tai tiếng lớn nhất trong Giáo hội; nhưng họ không phải là những người duy nhất: Sự xấu xa của Giáo triều là một chủ đề thường xuyên trong các tác phẩm văn học cải cách của thế kỷ XV. Tất cả những điều xấu xa của Giáo hội đều được quy cho nó: “Các thành viên bị bệnh vì người đứng đầu bị bệnh”, người ta nói. Và nguyên nhân của căn bệnh đó, họ cáo buộc, là nạn mua thần bán thánh.

Nạn mua thần bán thánh là cốt lõi của hệ thống giáo triều như nó hoạt động trước thời Luther. Các Giáo hoàng đã giành được quyền kiểm soát một số lượng lớn các chức vụ giáo sĩ, và việc mua bán chúng là một nguồn thu nhập béo bở và thậm chí cần thiết cho Giáo hoàng. Vào thời của Đức Leo X (mất năm 1521), người ta ước tính rằng có khoảng hai nghìn chức vụ trong Giáo hội có thể mua bán được, được bán công khai tại Vatican; thậm chí một chiếc mũ Hồng Y cũng có thể được bán cho người trả giá cao nhất. Ngoài ra, còn có vô số loại thuế do Giáo triều áp đặt lên các chức vụ mới được phong. Ví dụ, để lên ngôi tổng giám mục Mainz, Albrecht xứ Brandenburg phải nộp thuế mười nghìn đồng ducat, và việc ông cổ vũ ân xá để đảm bảo nguồn tài chính cần thiết đã khiến ông vướng vào một thỏa thuận không mấy tốt đẹp với Giáo triều. Lời phản đối của Luther đã khiến thỏa thuận này mang tiếng xấu mãi mãi – nhưng thực tế, đó là một điển hình cho một tập tục ăn sâu bám rễ của Giáo triều.

Một tập tục khác của Giáo triều bị nhiều người theo tư tưởng cải cách ghét bỏ là tính đa nguyên (pluralism)– thói quen trao hơn một ân bổng hoặc chức vụ cho một người. Đây đơn giản chỉ là một biện pháp tài chính – một cách để bổ sung thu nhập cho các giáo sĩ đang gặp khó khăn do lạm phát tăng cao trong thế kỷ XV. Ngày càng khó khăn hơn cho các vị lãnh đạo của Giáo hội để duy trì mức sống vương giả mà người ta mong đợi ở họ. Và vì vậy, một giám mục có thể phụ trách nhiều giáo phận để có đủ thu nhập. Albrecht xứ Brandenburg lại đưa ra một ví dụ: Bên cạnh chức vụ tổng giám mục Mainz, ngài còn nắm giữ hai chức vụ giám mục khác và một số lượng lớn các tu viện giàu có.

Bản chất của việc này dẫn đến tình trạng trốn sở (absenteeism); thực tế, một số giám mục này chưa bao giờ đặt chân đến giáo phận của mình. Rõ ràng, tinh thần của Giáo hội bị ảnh hưởng rất nhiều; các hành vi lạm dụng đủ loại gia tăng, vì không có cơ quan nào kiểm soát chúng. Văn học thời kỳ đó đưa ra nhiều ví dụ về các giáo sĩ sau khi có được một số bổng lộc bằng cách sử dụng ảnh hưởng của mình trong Giáo triều đã bỏ bê việc quản lý. Người ta từng nói: "Ở Đức, tỷ lệ linh mục thường trú rất nhỏ - chỉ khoảng 7 phần trăm...". (65)

Một điều đáng ngại khác là sự độc quyền mà giới quý tộc giành được đối với các chức vụ cao trong Giáo hội - điều mà họ thường lợi dụng vì những lý do bản thân và thế tục. Việc một ông hoàng bổ nhiệm con trai út của mình làm giám mục là điều khá phổ biến, như một cách duy nhất để đảm bảo một lối sống phù hợp với địa vị của họ. Lortz đưa ra ví dụ về Geneva, nơi mà từ năm 1450 đến năm 1520 có không dưới năm công tước là giám mục, và hai trong số họ chỉ mới tám tuổi vào thời điểm được bổ nhiệm! (66) Những người này thường mải mê với thú vui và lợi ích vật chất, và khi cuộc Cải cách nổ ra, họ không thể hoặc không muốn cung cấp sự lãnh đạo tinh thần. Trên thực tế, khi Luther xuất hiện, nhiều người trong số họ nằm trong số những người Công Giáo đầu tiên quay lưng lại với Giáo hội cũ để giành được lợi thế chính trị hoặc kinh tế từ phong trào mới.

Tầng lớp giáo sĩ thấp hơn cũng không khá hơn. Cũng như Giáo triều và tầng lớp giáo sĩ cao cấp, chúng ta thấy mọi cấp độ suy thoái: bỏ bê nơi ở mục vụ, tích lũy bổng lộc và hoàn toàn thế tục. Bên cạnh đó, tồn tại cả một tầng lớp giáo sĩ bình dân, được gọi là các linh mục cử hành Thánh lễ, chiếm tới 10% dân số ở nhiều thành phố; chức năng duy nhất của họ là cử hành Thánh lễ hàng ngày. Việc giảng giải dường như ở mức độ rất thấp. Ít nỗ lực được thực hiện để giáo dục giới trẻ, và thường thì chính các giáo sĩ cũng ngu dốt và mê tín như những người khác. Chế độ đa thê rất phổ biến. Việc đào tạo giáo sĩ rất kém; chỉ một tỷ lệ nhỏ có kinh nghiệm đại học.

Bức tranh do các dòng tu trình bày cũng ảm đạm không kém. Tất nhiên, điều kiện rất khác nhau giữa các quốc gia và các dòng tu. Thảm họa của Chiến tranh Trăm năm (1337–1453) và dịch hạch, cùng với sự lan rộng của tình trạng hỗn loạn sau đó, đã làm suy yếu kỷ luật đan viện và khiến nhiều đan viện không thể phục hồi. Ở Ý và Đức, sự xung đột giữa các phe phái, giữa Giáo hoàng và Hoàng đế, tiếp theo là cuộc Đại ly giáo trong Giáo hội đã đẩy đời sống đan viện xuống dốc. Luật lệ của dòng Bê-nê-đic-tô đã trở nên lỗi thời, trong khi nhiều đa viện được điều hành bởi các viện phụ thế tục không thường trú. Các đan viện cũng không còn là nơi học tập thế tục nữa. Dòng Bê-nê-đic-tô chỉ còn là tàn tích phong kiến, đã mất hết liên hệ với các điều kiện xã hội và văn hóa mới. Dòng Xi-tô không suy tàn rõ rệt như vậy – 24 đan viện mới được thành lập vào thế kỷ 15 cho thấy họ vẫn còn sức sống. Tuy nhiên, ở hầu hết các đan viện, đời sống cộng đồng chỉ còn là ký ức; việc cầu nguyện chung thường xuyên bị gián đoạn, và tài sản chung nhường chỗ cho tài sản tư nhân. Nhiều tu sĩ đã xin phép Rô-ma để sống bên ngoài đan viện của họ, trong khi những người vẫn cư trú trong đan viện thường giữ phòng riêng của mình như tài sản bản thân.

Thần Chết siết cổ một nạn nhân của bệnh dịch hạch. Từ cuốn Stiny Codex, Tiệp Khắc, thế kỷ XIV. Thư viện Đại học, Praha. © Werner Forman/Art Resource, New York.


Các dòng tu khất thực cũng ở trong tình trạng đáng buồn—một sự kiện với những ứng dụng đáng báo động, vì phần lớn công tác mục vụ phụ thuộc vào họ. Các đan sĩ và thầy dòng là mục tiêu ưa thích của những người hay châm biếm; theo một câu tục ngữ phổ biến thời đó, người ta thà gặp một tên cướp còn hơn gặp một thầy tu khất thực. Một tác phẩm châm biếm ẩn danh nổi tiếng, Những Lá thư của những Người Vô danh, và các tác phẩm của Erasmus cho thấy nhiều người coi con cái của Thánh Phanxicô và Thánh Đa Minh là một lũ ngu dốt lười biếng. Và ý kiến như vậy không chỉ là trò hề của giới trí thức khó tính và bất mãn muôn thuở; những quan điểm tương tự cũng được tìm thấy trong số những người Công Giáo trung thành nhất—những người như I-nha-xi-ô thành Loyola và Thomas More.

Rõ ràng là Giáo hội rất cần cải cách và, như các công đồng ở Constance và Basel cho thấy, hầu hết các nhà lãnh đạo Công Giáo đều nhận thức sâu sắc điều đó. Nhưng vấn đề là làm thế nào để đạt được điều đó.

Phương pháp phổ biến nhất và được khuyến nghị liên tục là cải cách bằng một công đồng của Giáo hội và, bất chấp sự thất bại của Constance và Basel trong việc thực hiện điều đó, hy vọng vẫn còn. Nhiều tiếng nói đã được cất lên trong nửa cuối thế kỷ XV kêu gọi một công đồng—tiếng nói của những người vô cùng quan tâm đến phúc lợi của Giáo hội. Tuy nhiên, sau thất bại của Basel, rõ ràng là một công đồng như vậy chỉ có thể được thực hiện thành công dưới sự lãnh đạo của các Giáo hoàng.

Tại sao một công đồng cải cách của Giáo hoàng lại không thành hiện thực bất chấp áp lực rất lớn ủng hộ nó? Một lý do quan trọng là bản chất của chính Giáo hoàng. Đây là thời kỳ của điều gọi là ngôi vị giáo hoàng Phục hưng—một thời kỳ trong đó, các Giáo hoàng quan tâm đến chính trị Ý hơn là lợi ích của Giáo hội hoàn cầu. Về mặt bề ngoài, đó là thời kỳ huy hoàng của Giáo hoàng khi các Giáo hoàng biến Rô-ma thành trung tâm hàng đầu của thời kỳ Phục hưng và truyền cảm hứng cho những tác phẩm nghệ thuật bất hủ mà đến ngày nay vẫn còn tô điểm cho Vatican. Nhưng về mặt đạo đức và tâm linh, đó là thời kỳ suy thoái khủng khiếp. Trên thực tế, dưới thời các Giáo hoàng như Đức Six-tô IV (mất năm 1484), Đức In-nô-cen-tê VIII (mất năm 1492) và A-léc-xan-đơ VI (mất năm 1503), ngôi vị giáo hoàng chìm đắm trong sự tham nhũng chưa từng có kể từ thế kỷ thứ mười. Những người này hầu như đã mua vương miện và sử dụng nó chủ yếu để thúc đẩy lợi ích bản thân và gia tộc—lấp đầy Hồng Y đoàn bằng người thân và những ứng cử viên không xứng đáng. Họ hoàn toàn đặt các chức năng tôn giáo của chức vụ mình dưới sự chi phối của các mục tiêu thế tục không xứng đáng. Về mặt chính trị, họ đã đạt được những thành công lớn. Giu-li-ô II (mất năm 1513), một người có tính cách phi thường, đã biến Quốc gia Giáo hoàng thành một cường quốc hàng đầu trong chính trường châu Âu. Nhưng tất cả những điều đó chỉ là thành tựu nhất thời. Điều này đã gây tổn hại nghiêm trọng đến sự toàn vẹn của sứ mệnh tâm linh của các Giáo hoàng. Hậu quả xấu sẽ được gặt hái dồi dào dưới thời Đức Leo X.

Được cho là Sir Thomas More (1478–1535). Hans Holbein the Younger (1497–1543). Bảo tàng Uffizi, Florence. © Scala/Art Resource, New York.


Việc sa đà vào chính trị và thế tục không phải là lý do duy nhất khiến các Giáo hoàng thời Phục hưng không triệu tập được một công đồng cải cách. Còn có sự nhầm lẫn về thẩm quyền tương đối giữa Giáo hoàng và công đồng. Cần nhớ lại cách các công đồng Constance và Basel trước đó đã khẳng định quyền tối cao của mình so với Giáo hoàng; mặc dù Đức Eu-gê-ni-ô IV (mất năm 1447) đã đánh bại công đồng nổi loạn ở Basel, nhưng chủ yếu là nhờ các chiến thuật chính trị chứ không phải là dập tắt hoàn toàn lý thuyết công đồng. Đức Giáo Hoàng Pi-ô II (mất năm 1464) – bản thân ngài cũng là người ủng hộ Công đồng cho đến năm 1445 – đã cố gắng xóa bỏ ý tưởng về quyền tối cao của Công đồng đối với Giáo hoàng bằng sắc lệnh Execrabilis (1460), lên án bất cứ sự kháng cáo nào từ Giáo hoàng lên Công đồng. Nhưng điều này không có nghĩa là chấm dứt chủ nghĩa Công đồng. Tại Pháp và Đức, sắc lệnh này đã gặp phải sự phản đối mạnh mẽ, và trên thực tế, bên ngoài Rô-ma, nó không được chấp nhận rộng rãi. Ngay cả Luther, các hoàng tử thế tục và nhiều cơ quan giáo hội khác nhau, được hỗ trợ bởi một số nhà luật học giáo hội và các trường đại học hàng đầu, vẫn ủng hộ lý thuyết Công đồng và tiếp tục sử dụng việc kháng cáo lên Công đồng thay vì Giáo hoàng như một biện pháp giáo luật hợp pháp.

Đức Giáo Hoàng Leo X cùng các Hồng Y Giulio de Medici và Luigi de Rossi (khoảng năm 1517). Raphael (1483–1520). Bảo tàng Uffizi, Florence. © Scala/Art Resource, New York.


Do đó, trong tâm trí các Giáo hoàng, lời kêu gọi triệu tập một công đồng thường tương đương với một tiếng kêu nổi loạn. Khi đối diện với yêu cầu triệu tập công đồng, họ nhấn mạnh những khó khăn thực tế trong việc triệu tập và đã dùng đến những cách né tránh khác hoặc đưa ra các đề xuất phản biện. Một lý do khác khiến các Giáo hoàng thận trọng là cách mà ý tưởng về công đồng bị các vị vua thế tục lạm dụng. Điều này đã xảy ra nhiều lần trước thời Luther, ví dụ đáng chú ý nhất là công đồng ở Pisa, được Louis XII của Pháp triệu tập vào năm 1511 như một thủ đoạn chính trị thuần túy. Do đó, ngay cả những Giáo hoàng quan tâm đến cải cách cũng thích nghĩ đến hành động trực tiếp của Giáo hoàng, thông qua các đạo luật như sắc chỉ và sắc lệnh, hoặc thông qua công việc của các sứ thần Giáo hoàng.

Đây là phương pháp được Đức Pi-ô II áp dụng, người thực sự cam kết cải cách; ngài đã soạn thảo một sắc chỉ, Pastor Aeternus, lấy cảm hứng một phần từ chương trình cải cách của Giám mục Ni-cô-la thành Cusa. Sắc lệnh này ràng buộc chính Giáo hoàng vào một số thủ tục nhất định trong việc điều hành Giáo hội, nhưng thật không may, Đức Pi-ô đã qua đời trước khi sắc chỉ này có thể được ban hành. Một thời gian dài gián đoạn các nỗ lực cải cách của Giáo hoàng, chỉ bị gián đoạn khi Đức A-léc-xan-đơ VI thể hiện sự quan tâm đến cải cách. Một sắc chỉ mà ngài soạn thảo nhưng chưa bao giờ công bố chứa đựng chương trình cải cách toàn diện nhất trong toàn bộ giai đoạn từ Basel đến Công đồng La-tê-ra-nô lần thứ năm (1512–17). Sắc chỉ lên án những điều như sự bận tâm chính trị của các Hồng Y và nhấn mạnh bổn phận của các giám mục phải cư trú trong giáo phận của mình. Nhưng thật không may, A-léc-xan-đơ sớm bị phân tâm khỏi toàn bộ vấn đề; ngài mất hứng thú với sắc chỉ và không bao giờ công bố nó.

Nỗ lực cải cách cuối cùng của Giáo hoàng trước khi sự hiệp nhất Kitô giáo tan vỡ được thực hiện tại Công đồng La-tê-ra-nô, ban đầu được triệu tập bởi Đức Giu-li-ô II, và kết thúc vào năm 1517 dưới thời Đức Leo X. Hai tu sĩ dòng Camaldolese, Gius-ti-ni-a-nô và Qui-ri-nô, đã soạn thảo và trình bày một chương trình cải cách chỉ trích gay gắt sự thiếu hiểu biết của giới giáo sĩ, sự sa đà vào chính trị của Giáo hoàng và sự tập trung hóa bàn giấy. Nó kêu gọi một loạt các giải pháp mang tính xây dựng: đào tạo đầy đủ cho giới giáo sĩ, sửa đổi Giáo luật và triệu tập các công đồng chung cứ năm năm một lần. Nó đã báo trước một cách đáng chú ý những cuộc cải cách thực sự của Công đồng Trent; nhưng tầm nhìn của nó quá cao cả và mang tính tâm linh đối với người đang ngồi trên ngai tòa Phê-rô lúc bấy giờ. Đức Giáo Hoàng Leo X (mất năm 1521) không nhận thức được ngọn núi lửa dưới chân mình và ít có ý thức về trách nhiệm cứu rỗi các linh hồn. Và vì vậy, thực tế chẳng có gì được hoàn thành.

Cải cách Giáo hội bởi công đồng và Giáo hoàng không phải là khả thể duy nhất mà các nhà cải cách hình dung. Một số người ủng hộ một phương pháp khác: Họ thấy cuộc cải cách bắt đầu từ cơ sở, trên quy mô nhỏ, với những tâm hồn mộ đạo, những người bằng sự thánh hóa bản thân, các việc làm bác ái và hoạt động tông đồ của mình sẽ thúc đẩy dòng tu hoặc giáo xứ của họ tiến hành cải cách. Đó là một cách lặng lẽ, không phô trương, chậm chạp và mệt mỏi, đòi hỏi rất nhiều sự kiên nhẫn và hy sinh bản thân trước những hiểu lầm và xung đột không thể tránh khỏi. Trong các cộng đồng tu sĩ, điều đó luôn có nghĩa là trở lại với những lý tưởng ban đầu của dòng tu và đổi mới đời sống chung, cầu nguyện chung và bàn tiệc chung. Khi một đảng cải cách thấm nhuần những lý tưởng như vậy xuất hiện và lớn mạnh, nó chắc chắn sẽ cố gắng tìm kiếm những người đứng đầu tôn giáo có cùng chí hướng.

Một số phong trào cải cách như vậy có thể được tìm thấy trong các ghi chép của thế kỷ XV: Dòng Phan-xi-cô Tuân thủ (Franciscan Observantes] dẫn đầu bởi các vị thánh và nhà thuyết giáo vĩ đại Ber-nar-đi-nô thành Siena (mất năm 1444) và Gio-an Ca-pis-tra-nô (mất năm 1456), dòng Bê-nê-đic-tô của các cộng đoàn Bursfeld và Melk, dòng Đa-minh ở Lombard, và đan viện Augustinô của chính Luther là những ví dụ về sự tuân thủ nghiêm ngặt. Nhưng thực tế đáng buồn là không một dòng tu nào được cải cách hoàn toàn. Công việc của các nhà cải cách liên tục bị cản trở bởi sự thiếu ủng hộ của các nhà lãnh đạo Giáo hội.

Một đóng góp nổi bật cho công việc cải cách bản thân như vậy được thực hiện bởi Geert Groote (mất năm 1384) ở vùng Lowlands, người đã rao giảng và sống một tinh thần kêu gọi sự trở về với sự nội tâm Kitô giáo. Tác phẩm "Gương Chúa Kitô" đã nắm bắt được hương vị đặc biệt của nó. Hai cộng đoàn quan trọng trong thế kỷ XV—các Kinh sĩ của Thánh Au-gus-ti-nô xứ Windesheim và Anh em Đời sống Chung—đã bắt nguồn từ cảm hứng của Groote. Một dòng tu trong Giáo hội không bao giờ cần cải cách là dòng thánh Bru-nô (Carthusian), những người đã có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến công cuộc đổi mới trong thế kỷ XV. Ví dụ, tu viện của họ ở Cologne đã đóng vai trò là trung tâm tâm linh cho toàn bộ vùng hạ lưu sông Rhine.

Cũng có những cuộc cải cách liên quan đến giáo sĩ thế tục—các giám mục và linh mục quản xứ. Những nỗ lực này, về bản chất, ít được chú ý hơn so với việc cải cách các dòng tu hiện có hoặc thành lập các dòng tu mới. Chắc chắn chúng ta sẽ biết nhiều hơn về những phong trào này khi lịch sử tiếp tục nghiên cứu các tài liệu lưu trữ của giáo phận và khám phá thêm thông tin về các giám mục và linh mục đã tận tâm phục vụ giáo dân, tổ chức các hội nghị giáo phận và cố gắng khơi dậy sự đổi mới trong Giáo hội. Một trong những chuyên gia xuất sắc của thời kỳ này, Hubert Jedin, đã đưa ra một danh sách đầy đủ các giám mục cải cách người Đức thế kỷ XV và cho rằng hoạt động cải cách diễn ra ở Đức nhiều hơn bất cứ nơi nào khác, vì vậy nếu cuộc cách mạng giáo hội bắt đầu ở Đức, theo ông, đó không phải vì điều kiện ở đó tồi tệ hơn những nơi khác mà vì sự thức tỉnh tâm linh ở đó đã khiến những lạm dụng trở nên không thể chịu đựng được. (67)

Cũng có những phong trào cải cách bắt đầu từ giáo dân. Dòng Oratory of Divine Love [Nguyện đường Tình yêu Thiên Chúa], được thành lập ở Genoa ngay trước năm 1500, là nổi tiếng nhất trong số này. Ý tưởng chính của các thành viên là đạt được sự thánh thiện bản thân bằng cách làm việc thiện vì lợi ích của người khác.

Một loại cải cách khác được thực hiện bởi các hoàng tử thế tục: các hoàng tử lãnh thổ Đức như các Công tước xứ Sachsen, những người vào năm 1485 được Giáo hoàng cho phép cải cách các đan viện trên đất nước của họ, hoặc các vị vua Pháp, những người đã sử dụng quyền lực to lớn mà họ có đối với Giáo hội để tiếp tục cải cách. Nhưng thực tế, chỉ có các vị vua Tây Ban Nha mới đạt được tiến bộ thực sự trong nhiệm vụ này. Tây Ban Nha đặc biệt phù hợp với kiểu cải cách này, sở hữu một số nhà cải cách đan viện tài năng và các giám mục khôn ngoan và năng động, nổi bật nhất là Ximenes thành Cisneros, vị tổng giám mục giàu kinh nghiệm và khổ hạnh của Toledo, người trong khoảng bốn mươi năm cho đến khi qua đời năm 1517 đã thực hiện một cuộc cải cách ấn tượng đối với Giáo hội Tây Ban Nha. Trường Đại học Alcalá mới của ngài được biến thành một chủng viện giám mục và một trung tâm nghiên cứu nhân bản, nơi kết hợp kiến thức mới và thần học cũ trong một sự tổng hợp độc đáo. Dưới thời những người như Ximenes, nhà vua và giáo sĩ đã học được cách hợp tác mà không làm tổn hại đến thẩm quyền của bên nào trong một chương trình kết hợp cải cách với sự tôn trọng truyền thống. Không phải ngẫu nhiên mà Tây Ban Nha cung cấp những nhà lãnh đạo cho cuộc Cải cách Công Giáo phi thường đã quét qua toàn bộ Giáo hội sau Công đồng Trent.

Một loại nỗ lực cải cách khác cũng đáng được đề cập ở đây trong phác thảo về các cuộc cải cách trước thời Luther. Đó là loại cải cách được thúc đẩy bởi các nhà duy nhân bản Kitô giáo. Chủ nghĩa nhân bản là một phong trào trí thức và nghệ thuật bắt đầu từ Petrarch (mất năm 1374) đã mang lại một hướng đi hoàn toàn mới cho tư tưởng châu Âu. Không giống như tư duy Aristốt-Kinh Viện, quan điểm của trường phái nhân bản mang tính lịch sử và trên hết là phê phán. Nó phê phán những giả định lâu đời của trường phái Kinh Viện trong triết học và thần học, cũng như đối với Giáo hội, không chỉ phê phán những lạm dụng rõ ràng mà còn cả những truyền thống đáng kính. Vũ khí ưa thích của nó là sự chế giễu và mỉa mai, mà các nhà duy nhân bản như Erasmus (mất năm 1536) đã sử dụng không ngừng nghỉ chống lại các phong tục và tập quán của Giáo hội cho đến khi họ phải chịu bị cáo buộc theo chủ nghĩa hoài nghi, và có lẽ, trong một số trường hợp, cáo buộc này chính đáng.

Các nhà duy nhân bản tận tâm với ý tưởng cải cách Giáo hội bằng gương mẫu và giáo dục – dựa trên giả định cho rằng học vấn, dù là thiêng liêng hay thế tục, sẽ làm tăng lòng mộ đạo và kiến thức sẽ làm cho con người tốt hơn. Niềm tin như vậy về bản chất con người quá lạc quan, như lịch sử châu Âu sau này đã chứng minh một cách mạnh mẽ. Hơn nữa, bản thân chủ nghĩa nhân bản chứa đựng quá nhiều mâu thuẫn. Sự bác bỏ trường phái Kinh viện của nó quá rộng lớn và đe dọa tính liên tục của truyền thống Công Giáo. Sự nhấn mạnh vào bản nhiên hơn là ân sủng và sự nhiệt tình đối với các giá trị thế tục đã dẫn đến một số sai lầm. Những trường hợp này thậm chí dẫn đến chủ nghĩa ngoại giáo hoàn toàn. Mặc dù các nhà duy nhân bản hàng đầu vẫn trung thành với Giáo hội cũ—Thomas More thậm chí còn tử đạo—nhưng những lời chỉ trích liều lĩnh của họ đối với các định chế thánh thiêng nhất của Giáo hội chắc chắn đã chuẩn bị tâm trí của nhiều người cho cuộc tấn công toàn diện của Luther.

Tuy nhiên, chủ nghĩa nhân bản đã đóng góp tích cực vào công cuộc cải cách bằng cách ảnh hưởng đến sự đổi mới thần học, điều đã trở thành một đặc điểm quan trọng của cuộc Cải cách Công Giáo của Công đồng Tri-đen-ti-nô. Các nhà thần học Công Giáo hàng đầu của thời kỳ này—Cano (mất năm 1560) và Vitoria (mất năm 1546)—sẽ không thể hình dung được nếu không có những thành tựu của chủ nghĩa nhân bản. Ưu điểm chính của chủ nghĩa nhân bản trong khía cạnh này là sự nhấn mạnh vào tính chất lịch sử của Kitô giáo và nhu cầu các nhà thần học phải liên tục nuôi dưỡng tư tưởng của mình bằng cách nghiên cứu các nguồn—đặc biệt là Kinh Thánh và các Giáo phụ. Điều này đòi hỏi một nghiên cứu cập nhật về các ngôn ngữ cổ và việc sử dụng các phương pháp phê bình lịch sử mà các nhà nhân bản như Valla (mất năm 1457) đã phát triển. Erasmus (mất năm 1536), người được mệnh danh là hoàng tử của chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo, đã cống hiến cả cuộc đời mình để đặt nền móng cho nền thần học Kinh Thánh, phê bình và lịch sử mới này. Bản dịch Kinh Thánh Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp của ông (1516) là tác phẩm đầu tiên thuộc loại này ở Tây Âu, và những ấn bản đồ sộ về các Giáo phụ – thành quả của năng lực làm việc phi thường của ông – đã giúp các học giả tiếp cận được kho tàng tư tưởng của các Giáo phụ.

Tóm lại, bức tranh tổng quan về hoạt động cải cách trước thời Luther cho thấy một số điểm sáng. Các tín hữu Kitô giáo – giáo dân và linh mục – đã hăng hái theo đuổi cải cách bằng nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, tình trạng chung của Giáo hội lại là sự tham nhũng tràn lan. Các nhà chức trách Công Giáo không thể chê trách lúc bấy giờ là những người đầu tiên thừa nhận điều này. Đây chính là nội dung những gì Giáo hoàng A-dri-a-nô VI đã nói trong thông điệp gửi tới Nghị hội Nuremberg (1522); đây cũng là ý chính của báo cáo của ủy ban các Hồng Y (1538) do Đức Giáo Hoàng Phao-lô III bổ nhiệm để đưa ra các đề xuất cải cách.

Một cuộc cải cách tổng thể của Giáo hội chỉ có thể thành công nếu nó vươn tới đỉnh cao và giữ vững ngôi vị giáo hoàng. Thật không may, điều này đã không xảy ra cho đến sau Công đồng Tri-đen-ti-nô. Vì vậy, như nhà sử học Jedin nói, “Cuộc Cải cách Thệ Phản đã thành công nhờ vào việc những nỗ lực cải cách nảy sinh từ nền tảng của Giáo hội đã không đạt đến sự chín muồi.” (68)
 
VietCatholic TV
40 Năm Hồng Ân Linh Mục - Phỏng vấn Cha Anthony Nguyễn Hữu Quảng SDB
Giáo Hội Năm Châu
01:24 22/10/2026
 
Su-30 Nga 100 triệu gặp nạn. EU tố Mỹ ép Ukraine đầu hàng Nga. Tướng Zaluzhnyi phản bác TT Trump
VietCatholic Media
03:54 22/10/2026


1. Sự thật về trận Kyiv năm 2022

Tổng thống Mỹ Donald J. Trump hôm thứ Ba, ngày 20 tháng 10 năm 2026, đã tung ra 5 luận điểm về Ukraine. Đại Tướng Valerii Fedorovych Zaluzhnyi hiện đang giữ chức Đại sứ Ukraine tại Vương quốc Anh đã phản bác mạnh mẽ các tuyên bố của Tổng thống Trump.

Luận điểm thứ tư: Ukraine lẽ ra đã bị Nga đánh bại ngay trong ngày đầu tiên của cuộc chiến, nhưng một vị tướng Nga bất tài đã để mất 1.000 xe tăng trong một đầm lầy.

Tổng thống Trump nói: "Khi vị tướng ngu ngốc của Nga, một người đàn ông rất ngu ngốc, họ có 1.000 xe tăng chạy trên xa lộ bê tông, họ đã có thể đến Ukraine trong vòng bốn giờ, với tốc độ tối đa của xe tăng, chính xác là 48 dặm một giờ. Không gì có thể ngăn cản họ, chiến tranh đã kết thúc trong một ngày. Và vị tướng rất ngu ngốc này, tôi không biết ông ta là ai. Tôi nghi ngờ ông ta vẫn còn sống, tôi nghi ngờ ông ta vẫn còn sống. Ông ta quyết định rẽ phải vào vùng đất nông nghiệp rồi rẽ trái và đi lên Kyiv. Và thay vì ở lại trên xa lộ, con đường bê tông, con xa lộ hoàn hảo mà họ đang đi rất tốt, thì họ đã có thể đến đó trong ba tiếng rưỡi hoặc bốn tiếng và toàn bộ cuộc chiến đã kết thúc. Cuối cùng ông ta bị mắc kẹt trong bùn. Nó giống như cát lún. Đêm trước đó, họ đã có trận mưa lớn nhất trong 10 năm, và đất đai ngấm nước; nó giống như cát lún. Hầu hết mọi người không nhớ, nhưng tôi nhớ, bởi vì đó gọi là chiến tranh, bạn không bao giờ biết điều gì sẽ xảy ra. Nhưng Ông ta đã đưa ra một quyết định tồi tệ, một quyết định tồi tệ đến mức huyền thoại, và các xe tăng bị mắc kẹt. Chúng không thể tiến lên, cũng không thể lùi lại, chúng bị kẹt cứng.

Tướng Zaluzhnyi nói: Câu chuyện này sai sự thật và thực chất là bịa đặt. Nói dễ nghe thì là thứ chính trị hoang tưởng, nói khó nghe hơn thì là thứ chính trị trâng tráo.

Tôi là Tổng Tư Lệnh chỉ huy cuộc phản công của quân Ukraine vào thời điểm đó. Trận Kyiv là một trong những trận đánh quyết định và quy mô lớn nhất của Chiến tranh Nga-Ukraine với hàng chục ngàn người tham gia và thậm chí còn nhiều hơn nữa là nhân chứng dân sự. Lời kể và trải nghiệm của họ khác biệt hoàn toàn so với câu chuyện của Tổng thống Trump. Tôi không đánh giá cao kẻ thù nhưng cũng không mắc sai lầm ấu trĩ là xem thường chúng. Thực tế, không có thằng Tướng Nga nào ngu như Tổng thống Trump mô tả. Đó chỉ là một câu chuyện phịa từ A đến Z của thứ chính trị trâng tráo.

Thực tế là đầu năm 2022, Nga đã cố gắng chiếm Kyiv bằng cách phát động các cuộc tấn công đổ bộ đường không và tấn công bộ binh nhằm chiếm giữ một phi trường trọng yếu ở phía bắc thành phố, tiếp theo đó là một cuộc tấn công trên bộ quy mô lớn xâm chiếm Ukraine từ lãnh thổ Belarus – khi đó là một quốc gia trung lập. Chiến dịch đổ bộ đường không đã thất bại khi hệ thống phòng không Ukraine bắn hạ các trực thăng và máy bay chở lính dù của Nga đang tiếp cận phi trường, và kết thúc bằng việc lực lượng lục quân và pháo binh Ukraine bao vây và tiêu diệt các lính dù Nga được trang bị vũ khí nhẹ trên mặt đất.

Cùng lúc đó, các chỉ huy Ukraine đã mở các cửa xả nước trong các đập chứa nước từ các vùng đất ngập nước đã được rút cạn ở phía bắc Kyiv. Sự ngập lụt đó và địa hình rừng rậm hiểm trở, một phần trong đó bao gồm khu vực cấm Chernobyl bị nhiễm phóng xạ, đã buộc các đoàn xe tăng Nga đang trên đường đến tăng viện cho lính dù phải bám theo các con đường dẫn về phía nam. Các lực lượng Nga tiến công đã gặp phải sự kháng cự quyết liệt từ lực lượng chính quy Ukraine, lực lượng vệ binh quốc gia và dân quân tình nguyện. Điều này đã tạo ra những vụ tắc nghẽn giao thông xe thiết giáp Nga dài tới 50 km, thậm chí có thể nhìn thấy từ trên không.

Trong tháng tiếp theo, các đơn vị thiết giáp Nga chịu tổn thất nặng nề trong các cuộc phục kích, thường do các đội chống thiết giáp Ukraine giăng ra ở các làng mạc hoặc dọc theo các đoạn đường rừng rậm. Máy bay điều khiển từ xa tấn công của Ukraine được trang bị hỏa tiễn chống tăng cũng góp phần gây thương vong cho quân Nga. Những nỗ lực của Nga nhằm tránh các con đường và di chuyển xuyên quốc gia đã khiến một số phương tiện bị sa lầy và sau đó bị lực lượng Ukraine phá hủy. Tuy nhiên, theo hầu hết các nhà sử học, nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của Nga trong việc chiếm Kyiv là do sự kháng cự rộng rãi của người Ukraine, kết hợp với kế hoạch xâm lược của Nga dựa trên giả định rằng lực lượng quân sự Ukraine sẽ đầu hàng và dân thường sẽ chào đón quân xâm lược.

[Kyiv Post: Fact-Checked: Trump’s Latest Ukraine Claims]

2. Kallas nói các nhà đàm phán Mỹ đã cố gắng ép Ukraine đầu hàng trong suốt 1,5 năm.

Cao ủy phụ trách chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Âu Châu, Kaja Kallas, đã cáo buộc các nhà đàm phán Mỹ đang cố gắng gây áp lực buộc Ukraine đầu hàng Nga, nói rằng Washington đã theo đuổi đường lối đó trong khoảng 1,5 năm và bà kêu gọi gây áp lực mạnh hơn lên Mạc Tư Khoa.

Phát biểu trong phiên tranh luận toàn thể của Nghị viện Âu Châu về các cuộc tấn công của Nga ảnh hưởng đến vận tải biển Hắc Hải, ổn định khu vực và an ninh lương thực, Kallas hôm thứ Ba cho biết Ukraine đã chống lại việc đầu hàng theo các điều kiện của Putin vì Âu Châu tiếp tục ủng hộ nước này.

"Mặc dù các nhà đàm phán Mỹ đã cố gắng thúc đẩy Ukraine đầu hàng trong gần 2 năm, nói chính xác là trong 18 tháng qua, nhưng lý do Ukraine chưa đầu hàng theo các điều khoản của Putin là vì Âu Châu đã ủng hộ Ukraine", bà nói trong tuyên bố kết thúc của mình.

Bà bác bỏ những cáo buộc cho rằng Âu Châu thiếu chiến lược hòa bình hoặc không muốn hòa bình, đồng thời nói thêm rằng Ukraine và các nước Âu Châu muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng bất kỳ giải pháp nào cũng phải công bằng và lâu dài chứ không phải là một lệnh ngừng bắn tạm thời cho phép Nga tấn công trở lại.

Âu Châu phải có một ghế trong bàn đàm phán.

Bà Kallas cho biết bà đã trình bày với các Ngoại trưởng Liên Hiệp Âu Châu một "kế hoạch tối đa" để tham gia đàm phán hòa bình vào tháng Hai. Bà lập luận rằng Âu Châu nên đưa ra các yêu cầu riêng để đối trọng với các yêu cầu tối đa của Nga và bảo đảm rằng lợi ích của Âu Châu được đại diện trong các cuộc đàm phán.

Bà cũng cho rằng việc Nga bày tỏ mong muốn được dỡ bỏ lệnh trừng phạt cho thấy các biện pháp hạn chế đang phát huy hiệu quả.

"Những vấn đề mà họ quan tâm, việc dỡ bỏ lệnh trừng phạt, tất cả những vấn đề này thực ra Âu Châu cần phải có mặt tại bàn đàm phán vì đó là những quyết định của Âu Châu," Kallas nói.

Theo bà, các lệnh trừng phạt đã tước đoạt của Nga 1 ngàn tỷ euro (1,12 ngàn tỷ đô la), và số tiền đó do đó không thể được sử dụng để tài trợ cho nỗ lực chiến tranh của nước này.

Bà bác bỏ lập luận rằng một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân nên được đáp ứng mọi yêu cầu để tránh leo thang xung đột, đồng thời cảnh báo rằng đường lối như vậy sẽ khuyến khích các quốc gia khác sở hữu vũ khí hạt nhân để đổi lấy những nhượng bộ chính trị.

"Nếu chúng ta nói như vậy, thì tất cả mọi người đều đang gặp nguy hiểm," bà ấy nói.

Kallas cho biết Nga đã bác bỏ nhiều đề xuất ngừng bắn.

Bà Kallas lập luận rằng Ukraine đã đồng ý với một số sáng kiến ngừng bắn, bao gồm thỏa thuận ngừng bắn về năng lượng, thỏa thuận Hắc Hải và đề xuất ngừng bắn rộng hơn được đưa ra khoảng 1,5 năm trước đó. Bà cho biết Nga là bên đã từ chối đồng ý.

"Chúng ta thực sự cần gây thêm áp lực lên Nga và phải kiên quyết khẳng định rằng chúng ta cũng có những yêu cầu riêng và những điều này không phải là miễn phí," bà nói.

Bà cũng kêu gọi các nhà lập pháp Âu Châu liên hệ với các nước Phi Châu về vấn đề an ninh Hắc Hải, cho rằng các hành động của Nga ảnh hưởng đến việc vận chuyển ngũ cốc và lúa mạch đe dọa an ninh lương thực không chỉ ở Âu Châu mà còn trên toàn thế giới.

Kallas cho biết ngũ cốc và lúa mạch vận chuyển qua Hắc Hải đang hướng đến các nước Phi Châu và kêu gọi họ giúp thúc đẩy một thỏa thuận an ninh để bảo vệ hoạt động vận chuyển hàng hải.

[Kyiv Post: Kallas Says US Negotiators Tried to Push Ukraine Into Surrender for 1.5 Years]

3. Máy bay Su-30 của Nga rơi gần biên giới NATO, phi công nhảy dù thoát hiểm.

Một máy bay chiến đấu Su-30 của Nga đã gặp nạn ở vùng Kaliningrad vào thứ Tư, ngày 21 tháng 10, cả hai phi công đều nhảy dù thoát hiểm trước khi máy bay rơi xuống vùng lãnh thổ hải ngoại của Nga nằm giữa hai quốc gia thành viên NATO.

Theo hãng tin RIA, Bộ Quốc phòng Nga đã xác nhận vụ tai nạn xảy ra trong một chuyến bay huấn luyện theo lịch trình. Bộ này cho biết đội tìm kiếm và cấp cứu trên mặt đất đã di tản phi hành đoàn và cả hai phi công đều không gặp nguy hiểm.

"Máy bay đã rơi xuống khu vực không có người ở. Chuyến bay được thực hiện mà không mang theo vũ khí", Bộ này cho biết. Bộ không nêu rõ nguyên nhân vụ tai nạn.

Đài truyền hình REN TV của Nga, dẫn lời một nguồn tin giấu tên, xác định chiếc máy bay là Su-30SM và đưa tin cả hai phi công đều bị thương với mức độ khác nhau và đã được đưa vào bệnh viện.

Theo bản tin được RBC-Ukraine trích dẫn, máy bay đã rơi xuống huyện Chernyakhovsk, giữa các khu dân cư Timofeyevka và Zelyony Bor.

Thông cáo của Bộ này xác nhận rằng các thành viên phi hành đoàn đã sống sót nhưng không cung cấp chi tiết về thương tích hoặc quá trình điều trị tại bệnh viện. Do đó, thông tin về việc vào bệnh viện vẫn được tường trình do truyền thông Nga đưa ra.

Thông báo chính thức cũng chỉ xác định chiếc máy bay là Su-30, mà không nêu rõ biến thể SM được đề cập trong các báo cáo ban đầu. Cả hai thông báo đều không xác định được nguyên nhân vụ tai nạn.

Một máy bay quân sự Nga khác gặp nạn.

Vụ việc này xảy ra sau một số vụ tai nạn hàng không quân sự khác của Nga được báo cáo trong năm nay, liên quan đến cả máy bay chiến đấu và máy bay ném bom chiến lược.

Ngày 3 tháng 4, một chiếc Su-30 của Nga đã bị rơi trong một chuyến bay huấn luyện ở Crimea bị tạm chiếm. Bộ Quốc phòng Nga cho biết chiếc máy bay này cũng đang bay mà không mang theo vũ khí và phi hành đoàn đã nhảy dù trước khi được đội tìm kiếm cứu nạn đưa đi.

Su-30SM là máy bay chiến đấu đa năng hai chỗ ngồi được phát triển từ Su-27. Tên gọi theo quy định của NATO là Flanker-H.

Ngày 7 tháng 9, các blogger quân sự Nga đưa tin hai máy bay chiến đấu Su-35S đã va chạm trên vùng Kursk. Blogger hàng không ủng hộ chiến tranh Ilya Tumanov, người điều hành kênh Telegram Fighterbomber, đã đưa tin về vụ va chạm, và sau đó các blogger quân sự Nga khác cũng mô tả về tổn thất này.

Theo các báo cáo, một phi công đã thiệt mạng, trong khi người còn lại may mắn thoát nạn. Bộ Quốc phòng Nga chưa đưa ra bình luận nào vào thời điểm đó, và hoàn cảnh vụ việc vẫn chưa rõ ràng.

Su-35S là một loại máy bay chiến đấu khác được phát triển từ dòng Su-27. Quân đội Nga sử dụng nó cho các nhiệm vụ bao gồm hộ tống máy bay ném bom chiến đấu Su-34, đánh chặn máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn, và đối phó với hệ thống phòng không của Ukraine.

Cuối tháng đó, một máy bay ném bom chiến lược Tu-95 đã bị rơi ở vùng Amur của Nga trong một cuộc tập trận. Kênh Telegram Baza của Nga đưa tin sáu thành viên phi hành đoàn thiệt mạng và một người phải vào bệnh viện sau vụ tai nạn ngày 29 tháng 9 gần Krasnoyanovo.

Các báo cáo ban đầu đã nhầm lẫn xác định chiếc máy bay đó là máy bay vận tải Tu-154 trước khi Bộ Quốc phòng Nga xác nhận đó là máy bay Tu-95. Nguyên nhân vụ tai nạn chưa được xác định ngay lập tức.

Máy bay Tu-95 là một phần quan trọng trong phi đội máy bay ném bom chiến lược của Nga và đã được sử dụng để phóng hỏa tiễn vào các thành phố của Ukraine.

Ý nghĩa quân sự của Kaliningrad

Vụ tai nạn hôm thứ Tư xảy ra tại vùng lãnh thổ Baltic được quân sự hóa cao độ của Nga, giáp với Ba Lan và Lithuania, cả hai đều là thành viên NATO, và không có đường bộ trực tiếp nào nối liền với đất liền Nga.

Kaliningrad là nơi đặt trụ sở của Hạm đội Baltic của Nga. Mạc Tư Khoa cũng đã triển khai các hệ thống hỏa tiễn chiến thuật Iskander tại đây, biến vùng lãnh thổ này thành một phần quan trọng trong thế trận quân sự của Nga ở khu vực Baltic.

Vùng lãnh thổ biệt lập này trở thành tâm điểm của những căng thẳng leo thang hồi tháng 9, khi đại sứ quán Nga tại Bỉ cảnh báo rằng Mạc Tư Khoa có thể sử dụng toàn bộ kho vũ khí của mình nếu các nước NATO tìm cách cô lập vùng lãnh thổ này.

NATO đã bác bỏ lời cảnh báo và mô tả liên minh này là mang tính phòng thủ, khẳng định các cuộc tập trận và các hoạt động khác của liên minh không gây ra mối đe dọa nào cho Nga. Liên minh cũng lên án các lời đe dọa sử dụng vũ lực và những tuyên bố hạt nhân của Mạc Tư Khoa.

[Kyiv Post: Russian Su-30 Crashes Near NATO Borders, Pilots Eject]

4. Khi Tổng thống Trump hướng về phía Nga, Tổng thống Zelenskiy đang mất đi sự kiềm chế của mình.

Tổng thống Volodymyr Zelenskiy đã dành phần lớn hai năm qua để cố gắng lấy lòng Ông Donald Trump. Những lời tâng bốc, các cuộc gặp gỡ liên tục và những nhượng bộ được tính toán kỹ lưỡng đã trở thành đặc điểm nổi bật trong các cuộc đàm phán của ông với tổng thống Mỹ.

Nhưng chiến lược này đã thất bại, khiến Tổng thống Zelenskiy phải thay đổi hướng đi và áp dụng giọng điệu đối đầu hơn.

"Thẳng thắn mà nói, Tổng thống Trump đã vượt quá giới hạn rồi," một quan chức Ukraine nói với tờ Kyiv Independent, tóm tắt tâm trạng ở Kyiv sau những thỏa thuận mới nhất của Washington với Mạc Tư Khoa và việc họ cản trở khả năng tự vệ của Ukraine.

Kể từ cuộc đối đầu tại Phòng Bầu dục vào tháng 2 năm 2025, Tổng thống Zelenskiy và nhóm của ông đã theo đuổi một chiến lược ngoại giao được tính toán kỹ lưỡng nhằm tránh xung đột với Washington và ngăn chặn việc Mỹ rút lại sự ủng hộ. Họ đã quản lý chặt chẽ thông điệp công khai của mình, liên tục cảm ơn Tổng thống Trump và chính quyền của ông, đôi khi gần như là một thói quen.

Tuy nhiên, nhiều tháng đã trôi qua mà các cuộc đàm phán hòa bình do Mỹ làm trung gian giữa Kyiv và Mạc Tư Khoa vẫn không có nhiều tiến triển. Mỗi vòng đàm phán mới đều diễn ra theo cùng một mô hình: Washington đàm phán với cả hai bên, sau đó đưa ra một đề xuất phần lớn phù hợp với yêu cầu của Mạc Tư Khoa. Kyiv thúc đẩy đàm phán lại các điều khoản để theo đuổi một thỏa thuận công bằng hơn, nhưng các cuộc đàm phán lại đổ vỡ một lần nữa.

Theo các quan chức và chuyên gia đã trao đổi với tờ Kyiv Independent, những cuộc đàm phán gần đây của Tổng thống Trump với người đồng cấp Nga, Vladimir Putin, cũng như việc Washington cản trở khả năng tự vệ của Ukraine, đã đi quá xa, khiến Tổng thống Zelenskiy không còn nhiều lựa chọn.

Và Tổng thống Zelenskiy đã phản ứng mạnh mẽ.

"Thật đáng tiếc khi chúng ta mất đi một đối tác mạnh mẽ," Tổng thống Zelenskiy nói trong một cuộc phỏng vấn được phát sóng vào ngày 14 tháng 10, khi trả lời về việc Tổng thống Trump dỡ bỏ lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ của Nga. "Khi Tổng thống Trump chọn một phe, đó không phải là phe của chúng ta. Nếu bạn ở giữa, bạn phải giữ vững lập trường trung lập, chứ không phải về phía sai trái… Tôi không biết ai đã thúc đẩy Tổng thống Trump, nhưng đây không phải là đứng về phía đúng đắn của lịch sử."

Oleksandr Merezhko, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Quốc Hội Ukraine, tỏ ra thẳng thắn hơn khi nói rằng "Bộ mặt thật đã bị lột bỏ. Trump không muốn Ukraine giành chiến thắng."

Ông cho biết Tổng thống Zelenskiy tập trung chỉ trích hành động của Tổng thống Trump thay vì biến tranh chấp thành vấn đề cá nhân, cẩn thận "không làm tổn thương lòng tự trọng của ông ấy".

"Tổng thống Zelenskiy rất khéo léo nhưng kiên quyết," ông Merezhko nói với tờ Kyiv Independent. "Tổng thống không thể im lặng khi Trump đã đạt được thỏa thuận với Putin. Bộ mặt thật đã bị lột bỏ. Trump không muốn Ukraine thắng."

Mô tả những bình luận của Tổng thống Zelenskiy là "khá khiêu khích" và "mang tính cảm xúc", Oleksandr Kraiev, nhà lãnh đạo chương trình Bắc Mỹ tại viện nghiên cứu Prism của Ukraine, cho rằng Ukraine đúng khi phản đối các hành động của Tổng thống Trump. Theo Kraiev, sự im lặng của Kyiv có thể khuyến khích các nước Âu Châu đi theo đường lối hướng đến lợi ích kinh tế cá nhân của Tổng thống Trump.

" Đây không phải là vấn đề về thái độ cá nhân, mà là về việc nhìn nhận thực tế như nó vốn có. Quan điểm của Trump về thực tế đã bị bóp méo vì lợi ích cá nhân của ông ta" ông nói tiếp.

Cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ sắp diễn ra tại Mỹ vào đầu tháng 11 được xem là yếu tố then chốt đằng sau những lời lẽ và hành động thù địch của Tổng thống Trump đối với Kyiv.

Các quan chức Ukraine từ lâu đã dự đoán mối quan hệ với Washington sẽ trở nên căng thẳng, vì cuộc chiến kéo dài tám tháng của Tổng thống Trump với Iran đã gây ra sự tăng vọt giá nhiên liệu toàn cầu và được dự đoán sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến cơ hội giành chiến thắng của đảng ông trong các cuộc bầu cử.

Tại hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp Âu Châu ở Brussels tuần trước, Tổng thống Zelenskiy được hỏi liệu Tổng thống Trump có đang dùng ông làm vật tế thần cho những rắc rối trong nước và quốc tế của mình hay không. Tổng thống Zelenskiy đáp lại với một nụ cười.

Merezhko lập luận rằng Ukraine không nên tập trung vào việc lấy lòng Tổng thống Trump, mà nên kêu gọi "những thế lực có thể hạn chế những sai lầm của ông ta".

"Chúng ta phải tránh tạo ấn tượng rằng chúng ta đang đứng về phe nào trong chiến dịch tranh cử bằng cách ủng hộ đảng Dân chủ. Nhiều đảng viên Cộng hòa chỉ trích hành động của Tổng thống Trump", ông nói. "Điều quan trọng đối với chúng ta là những người bạn của Ukraine phải thắng. Và chúng ta có bạn bè ở cả hai phe - Cộng hòa và Dân chủ."

Trong bối cảnh Tổng thống Zelenskiy phản đối điều mà ông cho là sự nghiêng về phía Nga của Tổng thống Trump, lập trường ngày càng kiên quyết bảo vệ lợi ích của Ukraine đã giúp ông tăng cường sự ủng hộ trong nước.

Tại Ukraine, nhiều người coi áp lực của Tổng thống Trump lên tổng thống như là áp lực lên chính đất nước, khiến người dân Ukraine đoàn kết ủng hộ Tổng thống Zelenskiy. Viện Xã hội học Quốc tế Kyiv, gọi tắt là KIIS đã mô tả điều này là hiệu ứng "đoàn kết quanh quốc kỳ".

Sau cuộc đối đầu tại Phòng Bầu dục, tỷ lệ ủng hộ Tổng thống Zelenskiy đã tăng vọt từ 57% lên 68%. Sau cuộc tranh chấp mới nhất, Tổng thống Zelenskiy cũng nhận được sự ủng hộ tương tự. Khoảng 43% người Ukraine tin tưởng Tổng thống Zelenskiy trong khoảng thời gian từ ngày 8 đến ngày 9 tháng 10, trong khi 52% không tin tưởng. Từ ngày 10 đến ngày 16 tháng 10, tỷ lệ tin tưởng ông tăng lên 57%, trong khi tỷ lệ những người không tin tưởng ông giảm xuống còn 39%, theo cuộc thăm dò của KIIS được công bố vào ngày 20 tháng 10.

Tổng thống Zelenskiy, người có uy tín bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong năm qua do các vụ bê bối tham nhũng liên quan đến các thành viên trong nhóm thân cận, dường như hiểu rõ mối tương quan này.

Khi được hỏi liệu ông có tranh cử nhiệm kỳ thứ hai nếu cuộc bầu cử tổng thống được tổ chức trong thời chiến hay không, Tổng thống Zelenskiy nói ông sẵn sàng làm như vậy, gọi đó là "trách nhiệm" của mình. Trước đó, ông hầu như né tránh câu hỏi về việc liệu ông có tìm kiếm một nhiệm kỳ nữa hay không.

"Ngay cả trong những động thái hoàn toàn tập trung vào chính sách đối ngoại, Tổng thống Zelenskiy rõ ràng vẫn tính đến những tính toán chính trị trong nước," Kraiev nói. "Tỷ lệ ủng hộ ông ấy đang tăng lên, và ông ấy đã trở thành hiện thân của một Ukraine đoàn kết chống lại cả Nga và một nước Mỹ khó lường."

"Còn lúc nào khác ông ta nên bắt đầu nghĩ đến chính trị trong nước nữa?"

[Kyiv Independent: As Trump turns toward Russia, Zelensky drops his restraint]

5. Witkoff nói với Putin: "Ngài là một người nhân đạo… Tôi rất khâm phục điều đó".

Steve Witkoff, đặc phái viên của Hoa Kỳ, đã ca ngợi nhà lãnh đạo Nga Vladimir Putin trong cuộc hội đàm trực tiếp tại St. Petersburg, gọi ông là "một người nhân đạo".

"Ông nói rất nhiều về tổng thống của tôi, Tổng thống Trump, là một người nhân đạo. Thưa ông, ông cũng là một người nhân đạo, và tôi hoan nghênh điều đó, tôi khen ngợi ông, và tôi cảm ơn ông một lần nữa," Witkoff nói hôm thứ Tư trong một đoạn video do truyền thông nhà nước Nga đăng tải trên mạng xã hội.

Chuyến thăm của Witkoff là nỗ lực mới nhất của Mỹ nhằm đưa Mạc Tư Khoa và Kyiv đến bàn đàm phán, bốn năm rưỡi sau khi Điện Cẩm Linh phát động cuộc xâm lược toàn diện Ukraine.

Đặc phái viên Mỹ đã gặp Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy tại Oslo hôm thứ Ba và dự kiến sẽ đề xuất cuộc đàm phán ba bên giữa hai nhà lãnh đạo này và Tổng thống Donald Trump.

Phát biểu sau đó vào thứ Tư, Phó Tổng thống Mỹ JD Vance nói: "Tôi đồng ý với Steve Witkoff khi nói những điều tốt đẹp về người vừa thả một con tin người Mỹ", ám chỉ việc thả Stephen Hubbard, một giáo viên đã nghỉ hưu bị Nga giam giữ từ năm 2022.

"Dù bạn có đồng ý với ý nghĩa ngầm hay không, Steve Witkoff là một nhà ngoại giao. Nhiệm vụ của ông ấy là đến đó và hoàn thành công việc," ông ấy nói thêm. "Tôi ít quan tâm đến những gì Steve nói hơn là việc ông ấy đã đưa một con tin người Mỹ trở về với gia đình."

Các cuộc không kích của Nga vào Kyiv và Kharkiv tiếp tục diễn ra suốt đêm, khiến ba người thiệt mạng, theo báo cáo của các thị trưởng địa phương.

Theo Liên Hiệp Quốc, cuộc tấn công của Putin vào Ukraine đã khiến 328 thường dân thiệt mạng chỉ riêng trong tháng 9, trong khi lực lượng Cẩm Linh đang nã pháo vào cơ sở hạ tầng năng lượng trên khắp đất nước khi mùa đông đến gần.

Tòa án Hình sự Quốc tế đã ban hành lệnh bắt giữ Putin vào năm 2023 vì tội cưỡng bức chuyển giao trẻ em sang Nga sau khi Điện Cẩm Linh bắt đầu cuộc xâm lược Ukraine.

[Politico: Witkoff to Putin: ‘You are a humanitarian … I salute that’]

6. Có lẽ đó là chuyện cá nhân: Người Âu Châu lo ngại rằng Tổng thống Trump chỉ đơn giản là thích Putin hơn Tổng thống Zelenskiy.

Trong một phát ngôn bâng quơ tuần này, Ông Donald Trump đã nói rõ rằng ông không coi cuộc chiến ở Ukraine là một cuộc xung đột mà cả hai bên đều có lỗi. "Thẳng thắn mà nói, Nga đã giải quyết vấn đề Ukraine khá tốt," tổng thống Mỹ nói. "Họ không làm gì quá đáng."

Đối với cư dân Kyiv - những người đã phải chịu đựng nhiều tuần oanh tạc dữ dội - và các đồng minh của Ukraine trên khắp Âu Châu, nhận xét này đã củng cố ấn tượng ngày càng lớn rằng Mỹ đang đứng về phía nhà lãnh đạo Nga Vladimir Putin trong cuộc chiến.

"Các nhà đàm phán Mỹ đã cố gắng thúc đẩy Ukraine đầu hàng trong gần hai năm nay rồi," nhà ngoại giao hàng đầu của Liên Hiệp Âu Châu, Kaja Kallas, phát biểu trước Nghị viện Âu Châu hôm thứ Ba. Bà nói thêm rằng lý do Ukraine chưa "đầu hàng theo điều kiện của Putin" cho đến nay là vì Âu Châu đã cung cấp rất nhiều sự hỗ trợ.

Trong khi đang vò đầu bứt tai tìm lời giải thích cho sự thay đổi lập trường mới nhất của Tổng thống Trump đối với Ukraine, một số quan chức và nhà ngoại giao Âu Châu cho rằng điều đó xuất phát từ lợi ích cá nhân của tổng thống, cũng như mục tiêu chính trị của đất nước ông.

"Tôi nghĩ đó là vấn đề cá nhân," cựu Bộ trưởng Nội các Anh David Lidington, hiện là học giả danh dự tại Viện Nghiên cứu Quân sự Hoàng gia Anh (Royal United Services Institute), một viện nghiên cứu an ninh hàng đầu ở Luân Đôn, cho biết. "Tổng thống Trump là người ích kỷ - sở thích cá nhân của ông ta đối với các nhà độc tài và chuyên chế, mong muốn tạo cơ hội làm ăn… là những động cơ rất quan trọng của ông ta."

Trong các cuộc trao đổi riêng, các quan chức Liên Hiệp Âu Châu đều đồng ý. "Tổng thống Trump không thích Tổng thống Zelenskiy. Trump đơn giản là không thích Tổng thống Zelenskiy," một quan chức chính phủ theo dõi sát sao cả hai người cho biết. "Điều đó khiến việc thuyết phục Mỹ giúp đỡ về hòa bình trở nên khó khăn hơn. Với Tổng thống Trump, mọi thứ đều là một thỏa thuận kinh doanh hợp lý, cho đến khi nó không còn hợp lý nữa."

Một nhà ngoại giao từ một quốc gia thuộc Liên Hiệp Âu Châu — được giấu tên, giống như những người khác trong báo cáo này, để thảo luận về các vấn đề nhạy cảm — cho biết Tổng thống Trump, người vốn không nhất quán, có thể lại thay đổi ý kiến và đảo ngược các động thái gần đây chống lại Ukraine. Nhà ngoại giao này nói rằng tổng thống Mỹ đã thay đổi lập trường về nhiều vấn đề, "ngoại trừ một điều". "Ông ấy dường như ủng hộ người Nga."

"Ông ấy từng chỉ trích Ukraine, Liên Hiệp Âu Châu, NATO, nhưng hầu như không bao giờ nói điều gì chỉ trích Putin. Điều đó thật đáng chú ý. Chúng ta phải đối phó với một chính quyền dường như thân Nga hơn bất cứ điều gì khác", nhà ngoại giao này nói.

Tòa Bạch Ốc chưa đưa ra phản hồi ngay lập tức về yêu cầu bình luận.

Thiệt hại ngày càng tăng

Đối với Ukraine và các đồng minh Âu Châu, ý nghĩ rằng không gì có thể hoặc sẽ thay đổi được quan điểm của Tổng thống Trump về Tổng thống Zelenskiy là một viễn cảnh ảm đạm. Sau bốn năm rưỡi chiến tranh, Kyiv đang thiếu hụt ngân sách, hệ thống phòng không và – trong bối cảnh sự ủng hộ dành cho cánh hữu dân túy ở Âu Châu ngày càng tăng – đối mặt với nguy cơ mất đi sự ủng hộ chính trị trong những tháng tới.

Đặc phái viên của Tổng thống Trump, Steve Witkoff, đã gặp tổng thống Ukraine và các nhà lãnh đạo Na Uy và Phần Lan để đàm phán tại Oslo hôm thứ Ba, và đã đến St. Petersburg để thảo luận các đề xuất hòa bình với giới lãnh đạo Nga vào thứ Tư khi Tòa Bạch Ốc đang nỗ lực thúc đẩy một lệnh ngừng bắn. Một trong những lựa chọn mà Putin sẽ được đề xuất là một hội nghị thượng đỉnh ba bên với các nhà lãnh đạo Tổng thống Trump và Tổng thống Zelenskiy.

Tuy nhiên, những nỗ lực trước đây nhằm thuyết phục tổng thống Nga tham dự cuộc gặp như vậy đã thất bại, và các nhà ngoại giao Liên Hiệp Âu Châu không tin rằng Putin đang thể hiện bất kỳ mong muốn thực sự nào về một lệnh ngừng bắn. Đó là một phần lý do khiến thái độ thù địch của Tổng thống Trump đối với Tổng thống Zelenskiy trở nên đáng lo ngại.

Một nhà ngoại giao Liên Hiệp Âu Châu khác cho biết: "Có một sự đồng thuận rõ ràng trên khắp Âu Châu rằng Putin không muốn hòa bình. Ông ta sẽ cần phải bị ép buộc để chấp nhận hòa bình."

Nhưng thay vì đưa ra yêu cầu với Putin, Tổng thống Trump đã gia tăng áp lực lên Tổng thống Zelenskiy, ngay cả trong bối cảnh các cuộc tấn công của Nga vào các thành phố của Ukraine leo thang trong tháng này. Theo một nhà ngoại giao, nhà lãnh đạo Ukraine đang cảm thấy căng thẳng, như ông đã nói với các đối tác Liên Hiệp Âu Châu trong các cuộc gặp riêng ở Brussels tuần trước.

Trong một loạt những bình luận chỉ trích gay gắt gần đây, Tổng thống Trump nói rằng Tổng thống Zelenskiy "không quan tâm" và "không muốn chấm dứt cuộc chiến này"; và nên bị thay thế khỏi vị trí lãnh đạo và cả vị trí người đàm phán của Ukraine. "Tổng thống Putin muốn thấy một giải pháp hòa bình," Tổng thống Trump nói. "Tổng thống Zelenskiy lẽ ra có thể giải quyết cuộc chiến này, hoặc ông ấy đã có thể đạt được một thỏa thuận, nhiều lần rồi."

Vụ đánh bại tại Phòng Bầu dục

Theo Lidington, sự thù địch của Tổng thống Trump có thể bắt nguồn từ một sự việc xảy ra trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông vào năm 2019, khi ông thúc giục nhà lãnh đạo Ukraine hỗ trợ điều tra Tổng thống Joe Biden, người cuối cùng đã đánh bại Tổng thống Trump trong cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo. Một loạt các cuộc đối đầu thù địch trong những năm sau đó - bao gồm cả tại Phòng Bầu dục vào tháng 2 năm 2025 - đã củng cố ấn tượng này, ông nói thêm.

"Rõ ràng là trong cuộc gặp tai tiếng tại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Trump và Phó Tổng thống JD Vance đã lên kế hoạch cho việc công khai chỉ trích Tổng thống Zelenskiy và lúc đó tôi nhận thấy có yếu tố cá nhân rất rõ ràng trong chuyện này," Lidington nói.

"Tôi nghĩ còn một yếu tố khác nữa, đó là nếu bạn nhìn vào những người mà Tổng thống Trump cố gắng lôi kéo, thì đó thường là những nhà lãnh đạo độc đoán, chuyên quyền - và đúng là ‘các đối tác làm ăn’", Lidington nói.

Ông nhớ lại việc tham dự một bữa tối với các nhà lãnh đạo thế giới vào năm 2018 để kỷ niệm 100 năm kết thúc Thế chiến I tại Paris. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Thủ tướng Đức lúc bấy giờ, Angela Merkel, cùng đóng vai trò chủ nhà "ở bàn chủ tọa", nhưng Tổng thống Trump không quan tâm đến việc trò chuyện xã giao với bất kỳ ai trong số họ, Lidington cho biết.

"Qua ngôn ngữ cơ thể, có thể thấy rõ Tổng thống Trump đang thiếu kiên nhẫn với họ, và một trong những người ông ấy thực sự muốn nói chuyện là lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdoğan và những người khác có vẻ phù hợp hơn với hình ảnh nhà lãnh đạo mạnh mẽ mà ông ấy thích thể hiện," ông nhận xét.

Một quan chức cao cấp từ một quốc gia Âu Châu quen thuộc với các cuộc đàm phán về Ukraine cho biết động cơ của Tổng thống Trump một phần là chính trị, một phần là tính toán xem điều gì sẽ có lợi và một phần là do vấn đề lợi ích cá nhân.

" Hiện tại đang trong chu kỳ bầu cử và họ cần tìm người để đổ lỗi cho việc giá cả leo thang," vị quan chức này cho biết. "Nhìn chung, Tổng thống Trump thường thích nhiều kiểu người và lãnh đạo khác nhau. Thực tế, ông ấy có thiện cảm với những người thành công và vui vẻ."

Những ngày gần đây, Tổng thống Zelenskiy đã cảnh báo rằng đất nước ông đang phải chịu nhiều thương vong dân sự hơn vì Mỹ đã cắt giảm hỗ trợ, bao gồm cả các dịch vụ Starlink và Starshield giúp Ukraine tự vệ trước các cuộc tấn công của Nga và lên kế hoạch cho các hoạt động. "Chúng tôi vẫn chưa có lời giải thích nào cho việc này, chỉ toàn những câu chuyện kỳ lạ khác nhau", Tổng thống Zelenskiy nói với các Dân biểu Mỹ hôm thứ Hai.

Tháng này, các cảnh báo sớm về các cuộc tấn công hỏa tiễn của Nga từ các đối tác của Mỹ đã không được gửi đến như thường lệ. Ông cũng cho biết Ukraine đang cạn kiệt hệ thống đánh chặn hỏa tiễn Patriot.

Ngũ Giác Đài chưa đưa ra bình luận chính thức nào về những lời phàn nàn của Ukraine. Phái bộ Giám sát Nhân quyền Liên Hiệp Quốc tại Ukraine cho biết 328 thường dân đã thiệt mạng và hơn 2.000 người bị thương trên khắp Ukraine trong tháng 10, tăng 85% so với tháng 9 năm 2025. Liên Hiệp Quốc cho biết hai tuần đầu tháng 10 là một trong những thời kỳ chết chóc nhất đối với thường dân ở Ukraine trong nhiều năm, do các cuộc tấn công bằng hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa gia tăng.

Kaja Kallas, phó chủ tịch Ủy ban Âu Châu, và cũng là Đại diện cấp cao của Liên Hiệp Âu Châu về chính sách đối ngoại và an ninh, cho biết nhiều chính phủ Âu Châu tỏ ra khó chịu vì Tổng thống Trump đã loại họ ra khỏi các cuộc đàm phán với Putin cho đến nay. "Có lẽ giữa người Mỹ và người Nga có nhiều cuộc đối thoại hơn chúng ta tưởng", nhà ngoại giao này nói.

Cuộc gặp với Witkoff hôm thứ Ba tại Na Uy đã làm dấy lên khả năng Tổng thống Zelenskiy có thể quay trở lại đàm phán trực tiếp với Putin.

"Hôm nay là một ngày tốt lành cho hòa bình," Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb phát biểu sau khi tham dự cuộc đàm phán ở Oslo. "Về mặt nội dung và kỹ thuật, chúng ta thực sự đã đạt được nhiều tiến bộ thầm lặng trong tuần qua," ông Stubb nói.

Ông nói thêm: "Hiện tại, quá trình này đang đi đúng hướng trở lại. Hy vọng là chúng ta sẽ không phải quay lại bước trước."

[Politico: Maybe it’s personal: Europeans worry Trump just likes Putin more than Zelenskyy]

7. Ukraine cho biết lần đầu tiên sử dụng máy bay điều khiển từ xa để di tản một binh sĩ bị thương khỏi tiền tuyến.

Ngày 19 tháng 10, quân đội Ukraine và công ty quốc phòng Gurzuf Defense thông báo rằng lực lượng Ukraine đã thực hiện một cuộc di tản bằng đường không "chưa từng có tiền lệ", đưa một binh sĩ bị thương trực tiếp từ vị trí tiền tuyến bằng máy bay điều khiển từ xa.

Chiến dịch này có sự tham gia của Lữ đoàn tấn công độc lập số 92, Lữ đoàn cơ giới độc lập số 30 và Quân đoàn 10 của Ukraine, cùng với nhà sản xuất máy bay điều khiển từ xa Gurzuf Defense của Ukraine.

Quân đội Ukraine không tiết lộ ngày diễn ra chiến dịch hay khu vực chiến tuyến nơi nó được thực hiện.

Người lính bị thương, phục vụ trong Lữ đoàn 30, đã trải qua gần 500 ngày ở vị trí tiền tuyến "trong tình trạng bị đe dọa tính mạng thường trực". Theo Gurzuf Defense, các đồng đội của anh đã giữ liên lạc và cung cấp thực phẩm, nước uống, đạn dược và thuốc men bằng máy bay điều khiển từ xa.

Sau khi người lính bị thương nặng, việc di tản anh ta bằng đường bộ trở nên bất khả thi do hoạt động của máy bay điều khiển từ xa Nga trong khu vực và địa hình nhiều mìn. Cố gắng tiếp cận anh ta bằng cách đi bộ hoặc bằng xe robot mặt đất, phương pháp di tản người bị thương thông thường, sẽ đặt đội cấp cứu vào nguy hiểm.

Quân đội Ukraine đã sử dụng máy bay điều khiển từ xa hexacopter vận tải hạng nặng, Heavy Shot Ayudag-6.

Đội cấp cứu đầu tiên đã cung cấp thiết bị đặc biệt kèm móc khóa cho người lính bị thương, sau đó gửi máy bay điều khiển từ xa trang bị tời kéo. Được điều khiển từ xa bởi các đồng đội luôn giữ liên lạc, người lính đã tự buộc mình vào hệ thống di tản, Gurzuf Defense cho biết, gọi chiến dịch này là "nhiệm vụ chưa từng có".

Sau đó, máy bay điều khiển từ xa đã vận chuyển anh ta đến một vị trí an toàn hơn, nơi các binh sĩ khác gặp anh ta và sắp xếp việc di tản tiếp theo đến bệnh viện. Nhiệm vụ kéo dài 1 giờ, 14 phút và 36 giây, với quãng đường di chuyển là 62 km.

Công ty cho biết chiến dịch này đòi hỏi phải giám sát chặt chẽ không phận và bảo vệ tác chiến điện tử trong suốt chuyến bay. Theo Lữ đoàn Cơ giới Độc lập số 30, người lính hiện đang được điều trị và phục hồi chức năng, và tính mạng của anh ta không còn gặp nguy hiểm.

"Đây là một chiến dịch cực kỳ phức tạp, nhưng đã thành công. Đây là một sự kiện lịch sử," "Napalm," một lập trình viên của Lữ đoàn 92, người tham gia chuẩn bị cho chiến dịch, cho biết.

"Đây đánh dấu giai đoạn tiếp theo trong việc di tản những người bị thương, điều mà cuối cùng tất cả chúng ta sẽ đạt được. Giờ đây, công việc nghiêm chỉnh và có hệ thống bắt đầu để bảo đảm rằng những nhiệm vụ như vậy diễn ra thường xuyên", Napalm nói thêm.

Pavlo Feldblium, đồng sáng lập Gurzuf Defense, cảnh báo rằng việc di tản bằng đường hàng không không nên được coi là một hoạt động thường quy, viện dẫn những rủi ro đối với binh lính bị thương trong quá trình di chuyển. Ông cho biết mỗi nhiệm vụ cần được lên kế hoạch riêng cho từng trường hợp và địa điểm cụ thể.

"Cấp cứu bằng đường hàng không là biện pháp cuối cùng khi không còn cách nào khác để cứu sống một người," Feldbliu nói.

Theo tờ Ukrainka Pravda của Ukraine, nền tảng của máy bay trực thăng sáu cánh Heavy Shot Ayudag-6 có tầm bay lên đến 25 km và độ cao hoạt động từ 150 đến 300 mét (500 đến 1.000 feet), trong khi bản thân máy bay nặng khoảng 98 kg (215 pound) và có thể mang theo 70 đến 90 kg (150 đến 200 pound).

[Kyiv Independent: Ukraine evacuates wounded soldier from front line by drone for first time, military says]

8. Tổng thống Zelenskiy liên kết vụ tấn công lớn vào ngành năng lượng Nga với việc Tổng thống Trump miễn trừ lệnh trừng phạt.

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy cho biết Nga đã phát động một trong những cuộc tấn công lớn nhất vào lĩnh vực năng lượng của Ukraine, tấn công vào hơn 15 cơ sở sản xuất và truyền tải điện quan trọng, đồng thời cáo buộc chính quyền Trump nới lỏng áp lực lên Mạc Tư Khoa bằng cách miễn trừ các lệnh trừng phạt và thuế quan mới quan trọng nhắm vào Nga.

Vụ tấn công xảy ra sau khi Tổng thống Trump ban hành sắc lệnh hành pháp bãi bỏ các lệnh trừng phạt, hạn chế và thuế quan theo Đạo luật Trừng phạt Nga và Iran năm 2026 của Lindsey O. Graham, vốn được thiết kế để tăng áp lực kinh tế lên Mạc Tư Khoa.

"Vào thời điểm người Nga tiến hành một cuộc tấn công quy mô lớn vào lĩnh vực năng lượng của chúng ta, thật không may là Mỹ đã đưa ra quyết định hoàn toàn phớt lờ Đạo luật Lindsey Graham", Tổng thống Zelenskiy nói hôm thứ Bảy.

Theo tổng thống Ukraine, từ 7 giờ tối thứ Sáu đến 7 giờ sáng thứ Bảy theo giờ địa phương, Nga đã sử dụng hơn 320 máy bay điều khiển từ xa Shahed và các loại vũ khí khác để tấn công cơ sở hạ tầng năng lượng, các thành phố và cộng đồng dân cư của Ukraine.

Trong bản tường thuật chi tiết hơn về cuộc tấn công đêm qua, Không quân Ukraine cho biết trên Telegram rằng Nga đã phóng 332 máy bay điều khiển từ xa trong đêm, bao gồm 31 mẫu máy bay phản lực, cùng với hỏa tiễn đạn đạo và hỏa tiễn hành trình, theo Ukrinform. Hệ thống phòng không đã bắn hạ hoặc vô hiệu hóa 293 mục tiêu trên không, trong khi đó ghi nhận các vụ tấn công trúng đích tại 22 địa điểm khác.

Tổng thống Zelenskiy nói: "Người Nga đã tăng cường chiến dịch chống năng lượng của họ và đang cố gắng làm suy yếu tối đa nguồn dự trữ và khả năng sửa chữa của chúng ta."

Tổng thống Zelenskiy đã trực tiếp liên kết việc chỉ trích quyết định trừng phạt của chính quyền Trump với quy mô của cuộc tấn công mạng từ phía Nga.

"Việc Mỹ ngừng trừng phạt, nới lỏng áp lực lên kẻ xâm lược, và những phần thưởng tài chính cho Putin - tất cả những điều này chỉ khuyến khích ông ta tiếp tục tấn công," Tổng thống Zelenskiy nói. "Chúng ta không được lùi bước."

Trong một bài đăng riêng vào thứ Bảy, Tổng thống Zelenskiy dự đoán rằng sẽ có thêm các biện pháp nới lỏng trừng phạt, nói rằng thỏa thuận về dầu diesel và việc miễn trừ theo Đạo luật Graham "không phải là kết thúc". Ông nói rằng quyết định này "chắc chắn chỉ có lợi cho người Nga" và "chắc chắn không chấm dứt được chiến tranh".

Khi được Newsweek hỏi về những lời chỉ trích của Tổng thống Zelenskiy và liệu cuộc tấn công mới nhất của Nga có thể khiến Tổng thống Trump xem xét lại việc miễn trừ trừng phạt hay không, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Taylor Rogers cho biết việc thực thi các lệnh trừng phạt ngay bây giờ sẽ cản trở những nỗ lực của chính quyền trong việc đàm phán chấm dứt chiến tranh.

Ông Rogers nói: "Việc thi hành các điều khoản trừng phạt ngay bây giờ sẽ cản trở những nỗ lực đang diễn ra của Mỹ trong việc đàm phán một thỏa thuận hòa bình toàn diện và bền vững giữa Ukraine và Nga. Tổng thống vẫn có khả năng thực hiện các quyền hạn này bất cứ lúc nào nếu ông ấy xác định rằng việc làm đó sẽ thúc đẩy lợi ích quốc gia."

Sắc lệnh mà Tổng thống Trump ban hành hôm thứ Sáu đã thực thi Đạo luật Graham, đồng thời sử dụng quyền miễn trừ vì lợi ích quốc gia để miễn áp dụng một số lệnh trừng phạt, hạn chế và thuế quan theo luật này.

"Tôi đã đệ trình lên Quốc hội một bản chứng nhận rằng việc ban hành giấy miễn trừ như vậy vào thời điểm này là vì lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ," Tổng thống Trump nói trong sắc lệnh.

Sắc lệnh này áp thuế 500% đối với hàng hóa Nga và mức thuế tiềm năng 100% đối với hàng hóa từ một số khách hàng mua dầu khí lớn của Nga, nhưng lại miễn trừ việc áp dụng các mức thuế này. Việc miễn trừ vẫn có hiệu lực cho đến khi Tổng thống Trump hoặc Ngoại trưởng, sau khi tham khảo ý kiến của các quan chức khác trong chính quyền, xác định rằng cần có hành động tiếp theo.

Sắc lệnh này không bãi bỏ các lệnh trừng phạt đối với Nga được áp đặt theo các sắc lệnh hành pháp trước đó.

Trong khi đó, quyết định của Tổng thống Trump đã vấp phải sự chỉ trích từ các thành viên của cả hai đảng, bao gồm cả một số đảng viên Cộng hòa.

"Tổng thống và các cố vấn của ông không hiểu phần nào về việc thực thi một đạo luật đã được Thượng viện thông qua với tỷ lệ 86-11 sao?" Thượng Nghị Sĩ đảng Cộng hòa Thom Tillis của Bắc Carolina viết vào thứ Bảy. "Thật không thể chấp nhận được khi chính quyền này lại nhượng bộ trước một nhà độc tài Nga, kẻ đã xâm lược Ukraine một cách bất hợp pháp và tàn sát thường dân vô tội mỗi ngày."

Ông gọi hành động này là "vô cùng thiếu trách nhiệm".

Thượng Nghị Sĩ đảng Cộng hòa John Cornyn của Texas đã nói: "Lindsey sẽ kinh hoàng."

Dân biểu Don Bacon, một đảng viên Cộng hòa đến từ Nebraska, cũng chỉ trích, viết trên trang X: "Tổng thống đang kéo dài cuộc chiến chứ không phải chấm dứt nó."

Alexander Kirk, một nhà vận động trừng phạt tại Urgewald, một tổ chức phi lợi nhuận về môi trường và nhân quyền của Đức, cho biết trong một tuyên bố được chia sẻ với Newsweek rằng Tổng thống Trump đã "làm suy yếu" đạo luật trước khi các biện pháp trừng phạt chính có hiệu lực, gọi việc miễn trừ này là "phao cứu sinh cho Putin".

Ông Kirk nói: "Quốc hội phải phản đối sự rút lui này và yêu cầu chính quyền giải thích lợi ích của ai được phục vụ bằng cách bảo vệ hoạt động thương mại năng lượng của Nga khỏi áp lực mà đạo luật này được thiết kế để tạo ra."

Khi thời tiết lạnh hơn đến gần, Nga đã tăng cường chiến dịch tấn công vào hệ thống điện của Ukraine, tấn công vào các nhà máy phát điện, đường truyền tải và các cơ sở hạ tầng quan trọng khác.

Tổng thống Zelenskiy cho biết quy mô và tốc độ của các cuộc tấn công đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng bất chấp việc Ukraine đã chặn được một phần đáng kể vũ khí của Nga.

"Nga đang cố gắng gây ra tình trạng mất điện ở Ukraine - ngay trước mùa đông," ông nói. "Nga đang cố gắng khiến hàng triệu người dân của chúng ta không có điện và sưởi ấm. Cần phải gây áp lực để ngăn chặn điều này."

Tranh chấp về lệnh trừng phạt diễn ra trong bối cảnh có sự thay đổi rộng hơn trong quan hệ kinh tế giữa Washington và Mạc Tư Khoa.

Ngày 9 tháng 10, Tổng thống Trump tuyên bố đạt được thỏa thuận với Putin, theo đó Nga sẽ cung cấp thêm dầu diesel cho thị trường Mỹ và toàn cầu. Sau đó, Bộ Tài chính Mỹ đã cho phép một số giao dịch liên quan đến dầu diesel có nguồn gốc từ Nga.

Tổng thống Trump cho biết thỏa thuận này nhằm mục đích tăng nguồn cung toàn cầu và giảm chi phí dầu diesel, đặc biệt là đối với nông dân, tài xế xe tải và các gia đình Mỹ, vì khả năng chi trả vẫn là một mối quan ngại chính trị trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11.

Thỏa thuận này đã vấp phải sự phản đối từ cả hai đảng trong Quốc hội, với những người chỉ trích cho rằng việc khôi phục doanh thu năng lượng của Nga sẽ làm suy yếu các nỗ lực gây áp lực lên Mạc Tư Khoa về vấn đề chiến tranh.

Hôm thứ Sáu, Tổng thống Zelenskiy cảnh báo rằng thỏa thuận về dầu diesel có thể chỉ là bước khởi đầu cho một sự mở cửa kinh tế rộng lớn hơn giữa Washington và Mạc Tư Khoa.

"Vì các thỏa thuận khí đốt sẽ được ký kết sau đó. Và tôi hoàn toàn chắc chắn về điều này," Tổng thống Zelenskiy nói với các phóng viên ở Brussels. "Sau khí đốt, họ cũng sẽ dỡ bỏ lệnh trừng phạt đối với những thứ khác."

Cuối ngày hôm đó, Tổng thống Trump đã ban hành các quyết định miễn trừ theo Đạo luật Graham.

Kirill Dmitriev, đặc phái viên đầu tư của Putin và là nhân vật chủ chốt trong các cuộc đàm phán giữa Washington và Mạc Tư Khoa, đã mô tả thỏa thuận về dầu diesel như một mô hình khả thi cho việc mở rộng hợp tác kinh tế.

Sau quyết định miễn trừ của Tổng thống Trump, Dmitriev gọi việc đình chỉ một số điều khoản của Đạo luật Graham là "một khoảnh khắc quan trọng và thực sự mang tính lịch sử", theo Kyiv Independent, đồng thời cho biết thêm rằng đối thoại kinh tế Mỹ-Nga sẽ tiếp tục.

Những diễn biến này đã làm trầm trọng thêm tranh cãi về vai trò của áp lực kinh tế trong việc chấm dứt chiến tranh. Tổng thống Trump đã bảo vệ những nỗ lực tăng nguồn cung dầu diesel từ Nga như một cách để giảm giá, đồng thời kêu gọi Nga và Ukraine ngừng tấn công các cơ sở hạ tầng năng lượng, trong khi Tổng thống Zelenskiy lập luận rằng việc giảm áp lực lên Mạc Tư Khoa sẽ tạo thêm động lực cho nước này tiếp tục chiến tranh.

Trên trang X, Tổng thống Zelenskiy viết rằng "chúng ta phải tiếp tục cố gắng chấm dứt chiến tranh", thay vì "tạo mọi lý do để Putin tiếp tục chiến tranh vô thời hạn".

[Kyiv Post: Zelensky Links Huge Russia Energy Attack to Trump Sanctions Waiver]
 
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV điện đàm với Tổng thống Zelenskiy về thỏa thuận ngừng bắn nhân đạo ở Ukraine
VietCatholic Media
15:21 22/10/2026




1. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV điện đàm với Tổng thống Zelenskiy về thỏa thuận ngừng bắn nhân đạo tại Ukraine.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã có cuộc điện đàm với Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy, vài ngày sau khi có cuộc trò chuyện tương tự với Putin.

Trong cuộc điện đàm hôm thứ Năm với Putin, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã yêu cầu một lệnh ngừng bắn nhân đạo tại Oleshky, một thành phố thuộc vùng Kherson của Ukraine đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nhân đạo kéo dài. Tuy nhiên, theo một tuyên bố của Điện Cẩm Linh được đưa ra sau cuộc điện đàm, Mạc Tư Khoa lại đổ lỗi cho Kyiv về tình hình này.

Thỏa thuận ngừng bắn nhân đạo cũng được thảo luận trong cuộc điện đàm hôm thứ Hai với Tổng thống Zelenskiy.

Theo một tuyên bố từ Văn phòng Báo chí Tòa Thánh, "Trong cuộc trò chuyện, Đức Thánh Cha đã nhắc lại tình hình nghiêm trọng ở thành phố Oleshky, thuộc vùng Kherson, và đề cập đến yêu cầu ngừng bắn nhân đạo mà ngài đã nói với Tổng thống Liên bang Nga."

Thông cáo nói tiếp: "Đức Thánh Cha bày tỏ hy vọng rằng sự hợp tác giữa hai bên sẽ cho phép cung cấp viện trợ lương thực và y tế, cũng như việc di tản tự nguyện và an toàn người dân."

"Cuối cùng, Đức Thánh Cha đã tái khẳng định cam kết của Tòa Thánh trong việc thúc đẩy đối thoại và hòa bình," thông cáo cho biết.

Cuộc điện đàm với tổng thống Ukraine đánh dấu một bước tiến nữa trong nỗ lực ngoại giao giữa Kyiv, Mạc Tư Khoa và Tòa Thánh, bắt đầu bằng các chuyến thăm của Hồng Y Matteo Zuppi, đặc phái viên của Giáo hoàng, tới Kyiv và sau đó là Mạc Tư Khoa.

Trong chuyến thăm Ukraine hồi tháng 6, Hồng Y Zuppi được hỏi liệu Giáo hoàng có sẵn lòng ủng hộ việc viện trợ nhân đạo cho cư dân Kherson và Oleshky hay không.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã đồng ý, và Hồng Y Zuppi đã truyền đạt ý muốn của Đức Giáo Hoàng trong việc can thiệp vào vấn đề nhân đạo trong chuyến thăm Mạc Tư Khoa từ ngày 28 đến 30 tháng 9.

Trong khi Vatican News đưa tin sau chuyến thăm Ukraine của Hồng Y Zuppi, không có thông báo tương tự nào được công bố sau chuyến đi của vị Hồng Y này đến Nga.

Hồng Y Pietro Parolin, quốc vụ khanh Tòa Thánh, cho biết cuộc điện đàm với Putin xuất phát từ mong muốn đối thoại của Đức Giáo Hoàng. "Chính Đức Thánh Cha đã chủ động lên tiếng bênh vực cho thành phố đang bị bao vây này", Đức Hồng Y Parolin nói với các phóng viên hôm thứ Sáu.

Tuy nhiên, các nguồn tin của Nga cho biết Putin đặc biệt quan tâm đến việc có cuộc trò chuyện thứ hai với Giáo hoàng sau cuộc trao đổi đầu tiên vào tháng 6 năm 2025.

Cuộc điện đàm hôm thứ Hai đánh dấu cuộc trò chuyện qua điện thoại thứ ba giữa Đức Giáo Hoàng Lêô XIV và Tổng thống Zelenskiy kể từ khi nhậm chức. Hai nhà lãnh đạo cũng đã gặp mặt trực tiếp ba lần.


Source:EWTNVATICAN



2. Sự ủng hộ của người Công Giáo dành cho Tổng thống Trump đang giảm dần, nhưng phải chăng đó chỉ là một phần của xu hướng chung trên toàn quốc?

Một cuộc khảo sát mới cho thấy sự ủng hộ của người Công Giáo dành cho Đảng Cộng hòa đang giảm dần khi Hoa Kỳ tiến gần đến cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng tới.

Đây có thể là một xu hướng chung của cả nước hơn là một vấn đề mang ý nghĩa tôn giáo.

Một cuộc khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu Pew thực hiện từ ngày 28 tháng 9 đến ngày 4 tháng 10 cho thấy 42% người Công Giáo ủng hộ các ứng cử viên của đảng Dân chủ vào Quốc hội, trong khi 39% ủng hộ đảng Cộng hòa.

Tuy nhiên, có sự khác biệt rõ rệt theo sắc tộc: cử tri Công Giáo da trắng ủng hộ 50% đảng Cộng hòa so với 32% đảng Dân chủ; trong số cử tri Công Giáo gốc Tây Ban Nha, tỷ lệ này chỉ là 19% ủng hộ đảng Cộng hòa so với 59% ủng hộ đảng Dân chủ.

Điều này có phản ánh một sự thay đổi cụ thể trong thái độ của người Công Giáo đối với Đảng Cộng hòa không?

Không hẳn.

Theo số liệu của Pew, tỷ lệ người Công Giáo ủng hộ Tổng thống Trump là 30%, chính xác bằng con số toàn quốc được tìm thấy trong một cuộc thăm dò khác.

Một cuộc thăm dò của AP-NORC được thực hiện từ ngày 8 đến 12 tháng 10 năm 2026 cho thấy phần lớn cử tri cho rằng đất nước cần "thay đổi đáng kể" hoặc "sự đảo lộn hoàn toàn" trong cách điều hành.

"Cử tri thuộc đảng Dân chủ và cử tri độc lập đặc biệt có xu hướng muốn thay đổi, với khoảng một nửa số đảng viên Dân chủ và 40% cử tri độc lập cho biết họ muốn có sự biến động," tổ chức thăm dò dư luận cho biết.

"Mặc dù cử tri đảng Cộng hòa ít có khả năng ủng hộ sự thay đổi hoàn toàn, họ vẫn đang tìm kiếm sự thay đổi. Gần một nửa, 45%, cho biết họ muốn thấy những thay đổi đáng kể trong cách điều hành đất nước", báo cáo cho biết thêm.

Theo AP-NORC, hiện nay khoảng 30% dân chúng Mỹ tán thành cách Tổng thống Trump điều hành công việc tổng thống, trong khi 68% không tán thành – giảm 4 điểm phần trăm so với tháng 7 và là tỷ lệ ủng hộ thấp nhất trong nhiệm kỳ thứ hai của ông.

Cuộc thăm dò của Pew cũng cho thấy rằng kể từ khi bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai, tỷ lệ ủng hộ của Tổng thống Trump đã "giảm đáng kể" trong số tất cả người trưởng thành ở Mỹ.

"Phần lớn sự sụt giảm tỷ lệ ủng hộ của ông trong suốt nhiệm kỳ là do chính những cử tri đã bỏ phiếu cho Tổng thống Trump vào năm 2024 gây ra," tổ chức này cho biết, "67% cử tri đã được xác minh của Tổng thống Trump vào năm 2024 tán thành hiệu quả công việc của ông hiện nay, trong khi 31% không tán thành."

"Vào đầu nhiệm kỳ, tỷ lệ ủng hộ là 95%", tổ chức này cũng cho biết, đồng thời nói thêm rằng một số sự sụt giảm mạnh nhất đến từ nhóm cử tri gốc Tây Ban Nha và cử tri trẻ tuổi đã ủng hộ Tổng thống Trump vào năm 2024.

Sự sụt giảm mạnh số lượng cử tri gốc Tây Ban Nha trên toàn quốc ảnh hưởng đến phiếu bầu của người Công Giáo.

Theo Pew, niềm tin vào cách Tổng thống Trump giải quyết một số vấn đề quan trọng, bao gồm kinh tế, chính sách đối ngoại và nhập cư, cũng thấp hơn so với thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ của ông.

" Ngoài ra, hầu hết người Mỹ (69%) cho biết họ ít tin tưởng Tổng thống Trump sẽ tách biệt lợi ích kinh doanh của cá nhân mình khỏi các quyết định tổng thống", báo cáo của Pew cho biết.

Các lãnh đạo Công Giáo đã phản đối chính quyền Trump về các vấn đề như đối xử với người nhập cư không có giấy tờ, cuộc chiến chống Iran và việc phát sóng trực tiếp vụ hành quyết Nidal Malik Hasan, kẻ xả súng tại Fort Hood.

Phản ứng dữ dội trước thông báo về kế hoạch phát sóng trực tiếp vụ hành quyết đã khiến Tổng thống Trump phải đảo ngược quyết định được Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth công bố hồi đầu tháng này.

Tuy nhiên, những vấn đề khác vẫn có thể ảnh hưởng đến phiếu bầu của người Công Giáo.

Cuộc thăm dò của Pew được tiến hành trước khi Đức Giáo Hoàng Lêô XIV tuyên bố ngài sẽ trải qua một cuộc phẫu thuật phổi, mà sau đó được xác định là do ung thư.

Cuộc thăm dò dư luận AP-NORC được tiến hành gần như ngay sau khi Đức Giáo Hoàng Lêô tuyên bố sẽ vào bệnh viện. Mặc dù Vatican cho biết quá trình hồi phục của ngài đang diễn ra như mong đợi, nhưng điều này đã thu hút sự chú ý đến mâu thuẫn được tường trình giữa Tổng thống Trump và Đức Giáo Hoàng Lêô.

Tổng thống Mỹ thường xuyên chỉ trích Đức Giáo Hoàng về quan điểm của ngài đối với cuộc chiến tranh Iran, cho rằng Đức Giáo Hoàng Lêô muốn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân.

"Tôi không muốn một vị Giáo Hoàng cho rằng việc Iran sở hữu vũ khí hạt nhân là điều chấp nhận được", ngài nói vào ngày 12 tháng 4.

Ngày 14 tháng 10, Tổng thống Trump nói với các phóng viên trên chuyên cơ Air Force One rằng ông muốn thấy Đức Giáo Hoàng Lêô bình phục sức khỏe.

"Tôi nghe nói về dự đoán tổng thể cho loại bệnh đó. Đó là ung thư. Đó là một vấn đề nghiêm trọng… Bất cứ khi nào bạn bị ung thư. Nhưng dự đoán tổng thể có vẻ tốt, tôi đã theo dõi. Và chúng tôi chỉ muốn gửi đến ngài tình yêu thương và những lời chúc tốt đẹp nhất," Tổng thống Trump nói.

Ông cũng nhắc đến em trai của Đức Giáo Hoàng, Louis Prevost, người được biết đến là một đảng viên Cộng hòa bảo thủ.

"Anh trai của ngài là bạn tôi, một người tuyệt vời — một người đàn ông tuyệt vời — và vợ anh ta nữa. Bạn biết đấy, họ là những người ủng hộ Tổng thống Trump nhiệt thành. Nhà họ treo đầy những thứ liên quan đến MAGA," Tổng thống Trump nói, "và tôi có thể nói rằng anh trai ngài rất yêu quý ngài. Rất yêu quý Đức Giáo Hoàng, và điều đó tốt, nhưng tôi chỉ muốn chúc ngài mau chóng bình phục."

Phó Tổng thống JD Vance, nhà lãnh đạo phe Công Giáo trong chính quyền Trump, dường như cũng đã nhận thấy được xu hướng thay đổi hiện nay.

"Tôi sẽ không xem nó," ông nói về vụ hành quyết trong cuộc phỏng vấn hôm 9 tháng 10, trước khi Tổng thống Trump tuyên bố rằng nó sẽ không được phát trực tiếp.

Phó tổng thống Vance cũng cho biết rằng gia đình ông vẫn đang tiếp tục cầu nguyện cho sức khỏe tốt và sự hồi phục hoàn toàn của Đức Giáo Hoàng Lêô.

"Cầu mong Chúa ban cho ngài sức mạnh để hồi phục. Tôi hy vọng ngài biết rằng hàng triệu tín hữu Kitô giáo Mỹ đang nghĩ về ngài," ông nói.

Nhà lãnh đạo nội các của Tổng thống Trump, Ngoại trưởng Marco Rubio, cũng đã đăng tải trên X về ca phẫu thuật của Đức Giáo Hoàng vào ngày 13 tháng 10.

"Tôi và Jeanette cùng nhau cầu nguyện cho sức khỏe của Đức Giáo Hoàng Lêô sau khi ngài được chẩn đoán bệnh gần đây. Xin Chúa ban cho ngài sức mạnh và xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn các chuyên gia y tế đang chăm sóc Đức Thánh Cha", vị quan chức Công Giáo viết.

Vance và Rubio được xem là những nhân vật hàng đầu và được kỳ vọng sẽ trở thành ứng cử viên sáng giá nhất của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2028.

Một cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tồi tệ đối với đảng Cộng hòa sẽ là cơ hội để họ chuyển hướng chống lại nhiều quyết định gây chia rẽ của Tổng thống Trump, là điều mà các chuyên gia và nhiều cử tri cho là nguyên nhân dẫn đến giá nhiên liệu và thực phẩm tăng cao trong nước.

Câu hỏi đặt ra là: Liệu phong trào MAGA có cho phép một ứng cử viên đảng Cộng hòa chất vấn Tổng thống Trump về bất kỳ vấn đề nào không?

Việc trừng phạt một ứng cử viên tại các cuộc bầu cử vì đã bất đồng quan điểm với Tổng thống Trump có thể ngăn cản đảng Cộng hòa giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống.

Liệu những người Cộng hòa ủng hộ MAGA có quan tâm không?


Source:CRUXNOW



3. Linh mục Raymond J. de Souza: Phải chăng Chúa đang kêu gọi Đức Giáo Hoàng Lêô chịu khổ vì các gia đình?

Linh mục Raymond J. de Souza, là chủ bút tập san Công Giáo Convivium của Canada. Ngài vừa có bài viết nhan đề "Is God Calling Pope Leo to Suffer for Families?", nghĩa là "Phải chăng Chúa đang kêu gọi Đức Giáo Hoàng Lêô chịu khổ vì các gia đình?".

Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Năm 1994, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II coi việc vào bệnh viện của mình như một sự đau khổ được dâng hiến cho các gia đình. Ca phẫu thuật của Đức Giáo Hoàng Lêô cũng có thể mang ý nghĩa tương tự.

Việc Đức Giáo Hoàng Lêô XIV phải vào bệnh viện để phẫu thuật ung thư phổi là một cú sốc — không phải vì một vị Giáo Hoàng bị bệnh, mà là vì vị Giáo Hoàng này lại bị bệnh.

Kể từ năm 1994 — khi Thánh Gioan Phaolô II phải vào bệnh viện bốn tuần sau khi bị ngã và gãy chân — người Công Giáo đã quen với việc các vị Giáo Hoàng cao tuổi hoặc ốm yếu, hoặc cả hai. Cả Đức Gioan Phaolô II và Đức Giáo Hoàng Phanxicô đều trải qua những năm cuối đời trên xe lăn. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 thoái vị vì sức khỏe suy yếu và bị mù một mắt khi từ chức.

Hình ảnh Đức Giáo Hoàng Lêô leo trèo trên những tảng đá ở Lampedusa vào ngày Quốc khánh 4 tháng 7 là điều chưa từng thấy trong hơn 30 năm – một vị Giáo Hoàng khỏe mạnh, cường tráng. Ngài không được chụp ảnh chơi tennis và bơi lội mỗi tuần tại Castel Gandolfo, nhưng thực tế ngài vẫn làm cả hai. Sức mạnh thể chất đã trở thành một phần phong cách đặc trưng của Đức Lêô, bao gồm cả một số khoảnh khắc đáng nhớ trong triều Giáo Hoàng của ngài: như mang Thánh giá Đại lễ vào Nhà thờ Thánh Phêrô, mang bình đựng Mình Thánh khi đi bộ suốt cuộc rước kiệu Mình Thánh Chúa, cây thánh giá trên Via Crucis tại Đấu trường Rôma, và ngọn đuốc trong chuyến thăm Lộ Đức gần đây.

Vì bệnh nhân có thể hoàn toàn hồi phục sau ung thư phổi nếu được phát hiện sớm, nên rất có thể Đức Thánh Cha sẽ sớm hồi phục hoàn toàn sức khỏe.

Trong khi đó, nhiều người thắc mắc phải chăng chẩn đoán và ca phẫu thuật hiện tại của ngài có liên quan đến mối quan tâm mục vụ của ngài đối với gia đình không? Ca phẫu thuật của Đức Giáo Hoàng Lêô diễn ra trong cuộc họp mà ngài triệu tập để thảo luận về việc chăm sóc mục vụ của Giáo hội đối với các gia đình nhân kỷ niệm 10 năm thông điệp Amoris Laetitia.

Phải chăng Đức Giáo Hoàng đang được kêu gọi chịu đau khổ vì các gia đình? Trong bài huấn đức trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật đầu tiên sau khi trở về Vatican từ bệnh viện vào tháng 5 năm 1994, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nêu rõ mối liên hệ đó.

Đây là một trong những bài phát biểu mang tính cá nhân nhất trong triều Đức Giáo Hoàng của ngài, trong đó Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy ngẫm về sứ mệnh của mình, tầm nhìn tiên tri của vị giáo chủ vĩ đại của Ba Lan, Chân phước Stefan Wyszyński, và vai trò của sự đau khổ trong sứ mệnh đó.

Ngài bắt đầu bằng việc bày tỏ "lòng biết ơn đối với món quà của sự đau khổ một lần nữa gắn liền với tháng Năm, tháng kính Đức Mẹ" - một sự ám chỉ đến vụ ám sát hụt ngày 13 tháng 5 năm 1981.

" Tôi nhận ra rằng đó là một món quà cần thiết," Đức Gioan Phaolô II tiếp tục. "Đức Giáo Hoàng phải ở tại Bệnh viện Đa khoa Gemelli, ngài phải vắng mặt khỏi khung cửa này trong bốn tuần, bốn ngày Chúa Nhật, ngài phải chịu đựng: như ngài đã phải chịu đựng 13 năm trước, năm nay cũng vậy."

Mục đích của sự đau khổ là gì? Đức Gioan Phaolô II đã suy ngẫm về điều đó trong suốt một tháng dưỡng bệnh của mình.

Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố năm 1994 là "Năm Quốc tế về Gia đình". Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết bức thư dài "Thư gửi các gia đình" để kỷ niệm sự kiện này vào tháng Hai. Tháng Chín, Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Dân số và Phát triển dự kiến được tổ chức tại Cairo, và Đức Thánh Cha đã dự đoán một cuộc đối đầu toàn cầu với các quốc gia, đứng đầu là chính quyền Clinton, muốn thiết lập quyền phá thai trên phạm vi quốc tế.

"Tôi đã suy ngẫm, tôi đã nghĩ lại tất cả những điều này trong thời gian nằm bệnh viện," Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói. "Và tôi lại thấy bên cạnh mình nhân vật vĩ đại là Hồng Y Stefan Wyszyński, nhà lãnh đạo Giáo hội Ba Lan. … Vào đầu triều Giáo Hoàng của tôi, ngài đã nói với tôi: ‘Nếu Chúa đã gọi ngài, ngài phải đưa Giáo hội bước vào thiên niên kỷ thứ ba.’ Chính ngài đã đưa Giáo hội ở Ba Lan bước vào thiên niên kỷ thứ hai của Kitô giáo."

Hình tượng vĩ đại của Đức Tổng Giám Mục thống trị trí tưởng tượng của người Công Giáo Ba Lan. Ngài cũng đã chịu đựng vì Giáo hội ở Ba Lan, bị chính quyền cộng sản quản thúc tại gia từ năm 1953 đến năm 1956. Sau khi được thả, ngài bắt đầu một thời kỳ chuẩn bị kéo dài một thập niên cho thiên niên kỷ của Kitô giáo Ba Lan, được đánh dấu bằng lễ rửa tội của vị vua đầu tiên của Ba Lan, Mieszko I, vào năm 966.

Lễ kỷ niệm thiên niên kỷ năm 1966 đã định hình rõ nét sự kháng cự của Giáo hội Ba Lan. Sau khi được bầu chọn vào ngày 16 tháng 10 năm 1978, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ngay lập tức hiểu rằng sứ mệnh của ngài là làm cho Giáo hội toàn cầu những gì mà Chân phước Stefan Wyszyński đã làm cho Giáo hội ở Ba Lan, cụ thể là chuẩn bị cho Đại lễ kỷ niệm năm 2000.

"Đây là những gì Hồng Y Wyszyński đã nói với tôi," Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói tiếp. "Và tôi hiểu rằng tôi phải đưa Giáo hội của Chúa Kitô bước vào thiên niên kỷ thứ ba này bằng lời cầu nguyện, bằng nhiều sáng kiến khác nhau, nhưng tôi thấy rằng điều đó là chưa đủ: nó phải được đưa vào bằng sự đau khổ, bằng cuộc tấn công cách đây 13 năm và bằng sự hy sinh mới này. Tại sao lại là bây giờ, tại sao lại trong năm nay, tại sao lại trong Năm của Gia đình này? Chính vì gia đình đang bị đe dọa, gia đình đang bị tấn công. Đức Giáo Hoàng phải bị tấn công, Đức Giáo Hoàng phải chịu đau khổ, để mọi gia đình và thế giới có thể thấy rằng có một Tin Mừng — tôi sẽ nói là một Tin Mừng cao cả hơn — Tin Mừng của sự đau khổ, mà tương lai phải được chuẩn bị bằng nó, thiên niên kỷ thứ ba của các gia đình, của mọi gia đình và của tất cả các gia đình."

Như vậy, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã hiểu việc vào bệnh viện năm 1994 đặc biệt liên quan đến gia đình. Có thể nghĩ rằng động lực tương tự đang diễn ra vào năm 2026, rằng sự đau khổ của Đức Giáo Hoàng Lêô sẽ mang lại kết quả tốt đẹp cho gia đình.

Nhìn về phía trước những gì sẽ diễn ra trong mùa hè với nhiều cuộc xung đột nổi bật tại Liên Hiệp Quốc, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị thừa nhận rằng "điều quan trọng là phải đưa vấn đề này ra trước những người có quyền lực trên thế giới":

Một lần nữa tôi phải gặp những người quyền lực trên thế giới này và phải lên tiếng. Với những lập luận nào? Tôi chỉ còn lại chủ đề về sự đau khổ. Và tôi muốn nói với họ: hãy hiểu điều đó, hãy hiểu tại sao Đức Giáo Hoàng lại phải vào bệnh viện, lại phải chịu đau khổ, hãy hiểu điều đó, hãy suy nghĩ lại!

Bài huấn đức trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật năm 1994 đó, cho đến thời điểm đó, là một trong những bài diễn văn tự truyện quan trọng nhất mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đưa ra. Cuối năm đó, cuốn sách phỏng vấn của ngài, Crossing the Threshold of Hope – Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, được xuất bản, và hai năm sau đó, hồi ký về chức linh mục của ngài, Gift and Mystery – Ân Sủng Và Mầu Nhiệm, cũng được ra mắt.

Bài diễn văn Chúa Nhật cuối cùng của ngài trước khi vào bệnh viện đột xuất, được đọc trong Mùa Phục Sinh với tên gọi Regina Coeli – Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, cũng rất đáng nhớ. Trong bài diễn văn đó, được đọc vào Chúa Nhật cuối cùng của tháng 4 năm 1994, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã suy ngẫm về những cuộc chiến tâm linh. Ngài nhắc đến Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, người mà Đức Thánh Cha hiện tại đã nhận làm tước hiệu Giáo Hoàng:

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII chắc chắn đã biết rõ về cảnh tượng này [Tổng Lãnh Thiên Thần Micae trong Khải Huyền chương 12] khi, vào cuối thế kỷ trước, ngài đã đưa ra một lời cầu nguyện đặc biệt dành cho Tổng Lãnh Thiên Thần Micae trong toàn Giáo hội: ‘Thánh Micae Tổng lãnh thiên thần, xin bảo vệ chúng con trong trận chiến…’

Sau đó, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khuyến khích việc khôi phục lại lời cầu nguyện này, và nó đã bén rễ trở lại ở nhiều nơi.

"Ngay cả khi ngày nay lời cầu nguyện này không còn được đọc vào cuối Thánh lễ, tôi vẫn mời gọi mọi người đừng quên nó, mà hãy đọc nó để được giúp đỡ trong cuộc chiến chống lại các thế lực bóng tối và tinh thần của thế gian này", Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói.

Hai Bài huấn đức trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật và Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng năm 1994 đã làm rõ rằng các cuộc chiến tâm linh được tiến hành bằng các công cụ tâm linh, trong đó đau khổ là một trong những công cụ mạnh mẽ nhất. Ngay cả Đức Thánh Cha cũng được kêu gọi sử dụng nó.

Xét đến thời điểm Đức Giáo Hoàng Lêô mắc bệnh ung thư, có lẽ, giống như vị tiền nhiệm thánh thiện của mình, ngài được kêu gọi sử dụng sức mạnh này để phục vụ cho đời sống gia đình.


Source:National Catholic Register